Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Quy chế đào tạo theo hình thức TÍN CHỈ

(Bài viết chỉ mang tính tham khảo cho sinh viên hệ tín chỉ)
Chương I: những quy định chung




Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Quy chế này quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp.

2. Quy chế này áp dụng đối với sinh viên các khoá đào tạo hệ chính quy đối với trình độ đại học và cao đẳng ở Trường Đại học thực hiện theo hình thức tích luỹ tín chỉ.

Điều 2. Chương trình giáo dục đại học

1. Chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi là chương trình đào tạo, hoặc gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học.

2. Chương trình được Nhà trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành; kiểu ngành chính - ngành phụ; kiểu 2 văn bằng).

3. Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.


Khối kiến thức giáo dục đại cương (gồm các môn học thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học nhân văn, khoa học tự nhiên) nhằm trang bị cho người học: thế giới quan khoa học và nhân sinhquan, hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người, nắm vững phương pháp tư duy khoa học, biết trân trọng các di sản văn hóa của dân tộc và nhân loại

Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp gồm: nhóm kiến thức cơ sở khối ngành hoặc nhóm ngành, nhóm kiến thức cơ sở ngành (kể cả kiến thức chuyên ngành), thực tập tốt nghiệp, khóa luận hoặc đồ án tốt nghiệp nhằm cung cấp cho người học những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cơ bản cần thiết

Các môn học trong chương trình đào tạo được sắp xếp theo trình tự nhất định vào từng học kỳ của khóa đào tạo. Đây là trình tự học mà Nhà trường khuyến cáo sinh viên nên tuân theo thông qua cố vấn học tập để thuận lợi nhất cho việc tiếp thu kiến thức

Điều 3. Học phần và Tín chỉ

1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Học phần có khối lượng từ 2 đến 5 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theonăm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã số riêng.

2. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.

a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;

b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của Nhà trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình.

3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết. Cứ 15 tiết bài tập; 30 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, làm tiểu luận; 45 tiết thực tập, kiến tập, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp; 60 giờ thực tập tại cơ sở thì được tính tương đương 1 tín chỉ

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

4. Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ.

5. Một tiết học được tính bằng 45 phút.

6. Học phần tiên quyết:

Học phần A gọi là học phần tiên quyết của học phần B nếu điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã học xong học phần A và kết quả thi đạt yêu cầu

7. Học phần trước:

Học phần A gọi là học phần trước của học phần B nếu điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã học xong học phần A (kết quả thi có thể chưa đạt). Sinh viên được phép đăng ký học phần B vào học kỳ tiếp sau học kỳ đã học học phần A

8. Học phần song hành:

Học phần A gọi là học phần song hành của học phần B nếu điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã đăng ký học phần A. Sinh viên được phép đăng ký học phần B vào cùng học kỳ đã đăng ký học phần A hoặc vào các học kỳ tiếp theo.

9. Học phí tín chỉ

Học phí tín chỉ được xác định căn cứ theo chi phí của các hoạt động giảng dạy học tập, cơ sở vật chất tính cho một tín chỉ. Học phí thu theo học kỳ được xác định theo số tín chỉ mà sinh viên đã đăng ký học trong học kỳ đó. Mức học phí do Hiệu trưởng quy định cho từng bậc học và từng hệ đào tạotheo từng năm học (có quy định riêng )

Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy

Thời gian hoạt động giảng dạy của trường được tính từ 7giờ đến 21 giờ hằng ngày.

Tuỳ theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của trường, Trưởng Phòng Đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp.

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).


2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.


3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D tính từ đầu khóa học.


4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần và được đánh giá bằng các điểm chữ A, B, C, D mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.


===================================================


Chương II: TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo

1. Nhà trường tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.

a) Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Tuỳ thuộc chương trình, khoá học được quy định như sau:

- Đào tạo trình độ cao đẳng, một khóa học được thực hiện trong ba năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; 1,5 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp cùng ngành đào tạo.

- Đào tạo trình độ đại học, một khóa học được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; 1,5 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo.

b) Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 14 tuần thực học và 3 tuần thi. Ngoài hai học kỳ chính, Nhà trường còn tổ chức thêm một kỳ học hè để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù hoặc học vượt. Mỗi học kỳ hè có ít nhất 6 tuần thực học và 2 tuần thi.

2. Căn cứ vào khối lượng và nội dung kiến thức tối thiểu quy định cho các chương trình, Hiệu trưởng phân bổ số học phần cho từng năm học, từng học kỳ.

3. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bằng hai lần thời gian thiết kế cho chương trình quy định tại khoản 1 của Điều này.

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.

Điều 7. Đăng ký nhập học

1. Sinh viên trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh đại học cao đẳng khi nhập học phải nộp các giấy tờ theoquy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng chính quy hiện hành. Hồ sơ sinh viên nhập học doTrung tâm tuyển sinh và Giới thiệu việc làm quản lý.

2. Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, Trung tâm tuyển sinh và Giới thiệu việc làm trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận người đến học là sinh viên chính thức của Trường và cấp cho họ:

a) Thẻ sinh viên;

b) Sổ đăng ký học tập;

c) Phiếu nhận cố vấn học tập.

3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại Quy chế hiện hành về tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy.

4. Sinh viên nhập học được Nhà trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.


Điều 8. Sắp xếp sinh viên vào học các chương trình hoặc ngành đào tạo

Nhà trường xác định điểm trúng tuyển dựa vào kết quả trong kỳ thi tuyển sinh đại học cao đẳng của thí sinh. Thí sinh trúng tuyển nhập học sẽ được Nhà trường sắp xếp vào học các chương trình (hoặc ngành đào tạo) đã đăng ký. Trường hợp đổi ngành học hoặc đăng ký học ngành thứ hai thí sinh phải đạt điểm chuẩn đầu vào của ngành xin học được xác định trong bảng điểm trúng tuyển đã công bố.

Điều 9. Tổ chức lớp học

a). Lớp học phần

Lớp học phần là lớp học được tổ chức theo từng học phần dựa vào đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở từng học kỳ, trong cùng thời điểm. Mỗi lớp học phần được gắn với một mã số riêng. Số lượng sinh viên của một lớp học phần được giới hạn bởi sức chứa của phòng học hoặc phòng thí nghiệm. Nếu số lượng sinh viên đăng ký thấp hơn số lượng tối thiểu quy định thì lớp học sẽ không được tổ chức và sinh viên phải đăng ký chuyển sang học những học phần khác có lớp, nếu chưa đảm bảo đủ quy định về khối lượng học tập tối thiểu cho mỗi học kỳ. Số lượng tối thiểu để xem xét mở lớp học phần trong học kỳ đối với lớp học lý thuyết là:

Ít nhất 70 sinh viên cho những học phần cơ bản, cơ sở của các nhóm ngành lớn và 50 sinh viên cho các học phần khác

Trong trường hợp các học phần chuyên ngành, nếu có đề nghị của Khoa quản lý ngành, Trường sẽ xem xét để mở các lớp có sỹ số dưới 50 sinh viên

Những sinh viên đã tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định được làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp trong mỗi học kỳ chính. Các học phần thí nghiệm, thực tập được mở lớp theo khả năng sắp xếp đảm nhận của Khoa chủ quản.

b) Lớp sinh viên và giảng viên chủ nhiệm.


Lớp sinh viên là một lớp có tên riêng gắn với Khoa, khóa học, ngành đào tạo và do một giảng viên chủ nhiệm phụ trách, giảng viên này đồng thời đảm nhiệm vai trò cố vấn học tập cho sinh viên trong lớp về các vấn đề học vụ, giúp đỡ sinh viên lập kế hoạch học tập trong từng học kỳ và cho toàn khóa học.


Tổ chức, hoạt động của lớp sinh viên, vai trò, trách nhiệm của giảng viên chủ nhiệm được quy định trong Quy chế công tác sinh viên của Trường


Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập

1. Đầu mỗi năm học, Phòng Đào tạo thông báo lịch trình học dự kiến cho từng chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ dạy, đề cương chi tiết, điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần.

2. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, sinh viên phải theo dõi các thông báo về kế hoạch đăng ký các học phần của Phòng Đào tạo và của các Khoa để chủ động đăng ký trên mạng hoặc trên website của Trường.

3. Khối lượng học tập mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ được quy định như sau:

a) Tối thiểu 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

b) 10-14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu.

c) Trường hợp học vượt đối với sinh viên có học lực khá trở lên, tối đa 23 tín chỉ đối với hệ đại học, cao đẳng cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa. Riêng đối với chuyên ngành tiếng Anh từ 24 tín chỉ đến 32 tín chỉ đối với hệ đại học, từ 24 đến 30 tín chỉ đối với hệ cao đẳng.

d) Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ hè.

5. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể.

6. Đối với những khóa mới nhập học Phòng Đào tạo sẽ đăng ký cho sinh viên những học phần của học kỳ I, từ học kỳ II đến cuối khóa học sinh viên tự đăng ký học phần học tập.

7. Phòng Đào tạo của Trường chỉ nhận đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở mỗi học kỳ khi đã có chữ ký chấp thuận của cố vấn học tập trong sổ đăng ký học tập. Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên theo từng học kỳ phải được ghi vào phiếu đăng ký học do Phòng Đào tạo của Trường lưu giữ.


Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký

1. Việc rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký chỉ được chấp nhận sau 1 tuần kể từ đầu học kỳ chính, nhưng không muộn quá 4 tuần; sau 1 tuần kể từ đầu học kỳ hè, nhưng không muộn quá 2 tuần. Ngoài thời hạn trên học phần vẫn được giữ nguyên trong phiếu đăng ký học và nếu sinh viên không đi học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.

2. Điều kiện rút bớt các học phần đã đăng ký:

a) Sinh viên phải tự viết đơn gửi Phòng Đào tạo của trường để xét;

b) Được cố vấn học tập chấp thuận.

c) Không vi phạm khoản 2, Điều 10 của Quy chế này.

Sinh viên chỉ được phép bỏ lớp đối với học phần xin rút bớt, sau khi giảng viên phụ trách học phần và Trưởng đơn vị đào tạo nhận giấy báo chấp thuận của Phòng Đào tạo.

Điều 12. Đăng ký học lại

1. Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D.

2. Sinh viên có học phần tự chọn bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó hoặc học đổi sang học phần tự chọn tương đương khác.

3. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này, sinh viên được quyền đăng ký học lại hoặc học đổi sang học phần khác (trường hợp các học phần tự chọn) đối với các học phần bị điểm D, C để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy.

4. Sinh viên phải theo dõi trên bảng tin và website của trường để đăng ký học lại, thi lại.

Điều 13. Nghỉ ốm
Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép gửi trưởng khoa trong vòng một tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của cơ quan y tế.


Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực

1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo như sau:

a) Sinh viên năm thứ nhất:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy dưới 35 tín chỉ;

b) Sinh viên năm thứ hai:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 36 tín chỉ đến dưới 70 tín chỉ;

c) Sinh viên năm thứ ba:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 71 tín chỉ đến dưới 105 tín chỉ;

d) Sinh viên năm thứ tư:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 106 tín chỉ trở lên

2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:

a) Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên.

b) Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00, nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học.

3. Kết quả học tập trong học kỳ hè được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ chính ngay trước đó để xếp hạng sinh viên về học lực.

Điều 15. Nghỉ học tạm thời

1. Sinh viên được quyền viết đơn gửi Hiệu trưởng xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:

a) Được điều động vào các lực lượng vũ trang;

b) Bị ốm hoặc tai nạn phải điều trị thời gian dài, nhưng phải có giấy xác nhận của cơ quan y tế;

c) Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở Trường, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học quy định tại Điều 16 của Quy chế này và phải đạt điểm trung bình chung tích lũy không dưới 2,00. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này.

2. Sinh viên nghỉ học tạm thời, khi muốn trở lại học tiếp tại Trường, phải viết đơn gửi Hiệu trưởng ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới .

Điều 16. Bị buộc thôi học

1. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a) Có điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa học; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo hoặc đạt dưới 1,10 đối với 2 học kỳ liên tiếp;

b) Có điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 1,20 đối với sinh viên năm thứ nhất; dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ hai; dưới 1,60 đối với sinh viên năm thứ ba hoặc dưới 1,80 đối với sinh viên các năm tiếp theo và cuối khoá;

c) Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại Trường quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này;

d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Quy chế này hoặc bị kỷ luật ở mức xoá tên khỏi danh sách sinh viên của Trường.

2. Chậm nhất là một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, Nhà trường gửi thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Những sinh viên thuộc diện bị buộc thôi học quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 của Điều này, được quyền xin xét chuyển qua các chương trình đào tạo thấp hơn và được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học ở các chương trình đào tạo mới này. Hiệu trưởng xem xét quyết định cho bảo lưu kết quả học tập đối với từng trường hợp cụ thể.


Điều 17. Học cùng lúc hai chương trình
1. Sinh viên học cùng lúc hai chương trình là sinh viên có nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.

2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:

a) Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo chính ở chương trình thứ nhất;

b) Sau khi đã kết thúc học kỳ thứ nhất năm học đầu tiên của chương trình thứ nhất;

c) Sinh viên không thuộc diện xếp hạng học lực yếu ở chương trình thứ nhất;

3. Sinh viên đang học thêm chương trình thứ hai, nếu rơi vào diện bị xếp hạng học lực yếu của chương trình thứ hai, phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo.

4. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng lúc hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này. Khi học chương trình thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất.

5. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.

Điều 18. Chuyển trường


1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:


a) Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;


b) Xin chuyển đến trường có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;


c) Được sự đồng ý của hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến;


d) Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy định tại khoản 2 Điều này.


2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:


a) Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng tuyển vào trường hoặc có kết quả thi thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến;


b) Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển quy định của trường xin chuyển đến;


c) Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;


d) Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.


3. Thủ tục chuyển trường:


a) Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của nhà trường;


b) Hiệu trưởng trường có sinh viên xin chuyển đến quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận; quyết định việc học tập tiếp tục của sinh viên, công nhận các học phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường sinh viên xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.


=====================================================


Chương III: KIỂM TRA VÀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN


Điều 19. Đánh giá học phần

1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (sau đây gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong qúa trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần, điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50%.


Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết của học phần.


2. Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành. Điểm trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành.


3. Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề kiểm tra giữa kỳ và cho điểm đánh giá bộ phận của điểm học phần. Ra đề thi và chấm thi kết thúc học phần được thực hiện theo điều 21 của Quy chế này.


4. Sinh viên dự thi kết thúc học phần phải đạt đủ các điều kiện sau:


- Đủ bài kiểm tra giữa kỳ;


- Số giờ nghỉ học không quá 20% tổng số giờ của học phần đó.


- Không bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên liên quan đến học tập học phần đó.


a. Đối với những học phần không làm tiểu luận điểm học phần tính như sau:


Đ.HP = 60% Đ.KTHP + 20% Đ.GHP + 20% Đ.TBKTTX

Trong đó:

Đ.HP: Điểm học phần.

Đ.KTHP: Điểm thi kết thúc học phần ( phải 4 mới tính các điểm khác)

Đ. GHP: Điểm kiểm tra giữa học phần. Với những học phần có 1 - 3 tín chỉ sẽ có 01 bài kiểm tra giữa kỳ; nếu có từ 4 – 5 tín chỉ sẽ có 02 bài kiểm tra trong học kỳ.

Đ. TBKTTX: Điểm trung bình kiểm tra thường xuyên, gồm:
- Điểm trung bình chấm kết quả các bài tập về nhà;
- Điểm đánh giá trả lời nhanh trên lớp hoặc thảo luận nhóm, hội thảo .



Sinh viên có 2 lần vào lớp muôn quá 10 phút tính bằng một buổi vắng mặt;

Sinh viên nghỉ có phép hợp lệ sẽ được tính điểm rèn luyện nhưng vẫn bị tính vào thời gian vắng mặt của môn học.

(Giấy phép được coi là hợp lệ khi nghỉ ốm đau có xác nhận của y tế, vì lý do cá nhân phải có ý kiến của gia đình hoặc xác nhân của Chính quyền địa phương, phải đưa đến giáo viên chủ nhiệm và Phòng Quản lý SV-HS trước giờ học xin được nghỉ)

- Điểm đánh giá số lượng các bài tập hoàn thành ở nhà: 90% - 100% được 10 điểm, 70% - cận 90%: 8 điểm; 50% - cận 70%: 6 điểm; dưới 50%: 0 điểm.

- Điểm đánh giá thái độ tham gia thảo luận nhóm, hội thảo: tham gia đầy đủ và có bài tham luận : + 5 điểm; tham gia đầy đủ không có bài tham luận: 0 điểm, tham gia không đầy đủ: - 5 điểm.

b. Đối với những học phần có làm tiểu luận hoặc bài tập lớn thì lấy điểm tiểu luận hoặc bài tập lớn thay cho điểm thi giữa học phần.

c. Mỗi ngành công nghệ hoặc kỹ thuật có hai môn cốt lõi cho sinh viên làm đồ án môn học. Điểm đồ án gọi là điểm làm đồ án cộng tên môn học với số tín chỉ bằng ½ tín chỉ của môn học .


Điều 20. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần

1. Cuối mỗi học kỳ, Nhà trường tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có học phần bị điểm F ở kỳ thi chính và được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính.(Những sinh viên đạt điểm B, C và D trong kỳ thi chính muốn thi lại để cải thiện điểm thì đăng ký trong học kỳ hè hoặc trong các học kỳ sau)


2. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó, ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ. Tùy theo từng trường hợp Hiệu trưởng quy định cụ thể thời gian dành cho ôn thi và thời gian thi cho các kỳ thi.


Điều 21. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần

1. Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình. Việc ra đề thi hoặc lấy từ ngân hàng đề thi được thực hiện theo quy định của Hiệu trưởng.


2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Hiệu trưởng duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần.


2. Khoa quản lý lớp học phần quản lý toàn bộ quá trình giảng dạy kiểm tra đánh giá, danh sách sinh viên trong lớp, tổ chức thi kết thúc học phần, quản lý điểm. Giảng viên phụ trách học phần chịu trách nhiệm giảng dạy, thực hiện các hình thức kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy, tham gia với khoa quản lý lớp học phần, tổ chức, ra đề, chấm thi kết thúc học phần.


3. Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm.


Việc bảo quản các bài thi, quy trình chấm thi và lưu giữ các bài thi sau khi chấm theo quy định của Hiệu trưởng. Thời gian lưu giữ các bài thi viết, tiểu luận, bài tập lớn ít nhất là hai năm, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận, bài tập lớn.


4. Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi. Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình trưởng bộ môn hoặc trưởng khoa quyết định.


Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của Trường, có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi và làm thành 2 bản. Một bản lưu tại văn phòng khoa và nộp điểm của từng học phần về Phòng Đào tạo chậm nhất một tuần sau khi thi xong học phần đó.


5. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính. Những sinh viên này khi được trưởng khoa cho phép được dự thi một lần ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có).


6. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính, nếu được Trưởng Khoa cho phép, được dự thi ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có), điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu. Trường hợp không có kỳ thi phụ hoặc thi không đạt trong kỳ thi phụ những sinh viên này sẽ phải dự thi tại các kỳ thi kết thúc học phần ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ.



Điều 22. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần

1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.

2. Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:


a) Loại đạt:


A (8,5 - 10) Giỏi


B (7,0 - 8,4) Khá


C (5,5 - 6,9) Trung bình


D (4,0 - 5,4) Trung bình yếu


b) Loại không đạt: F (dưới 4,0) Kém


c) Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các kí hiệu sau:


I : Chưa đủ dữ liệu đánh giá.


X : Chưa nhận được kết quả thi.


d) Đối với những học phần được nhà trường cho phép chuyển điểm, khi xếp mức đánh giá được sử dụng kí hiệu R viết kèm với kết quả.


3. Việc xếp loại các mức điểm A, B, C, D, F được áp dụng cho các trường hợp sau đây:


a) Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;


b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;


c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.


4. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản 3 Điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm nội quy thi, có quyết định phải nhận mức điểm F.


5. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:


a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được trưởng khoa cho phép;


b) Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách quan, được trưởng khoa chấp thuận.


Trừ các trường hợp đặc biệt do Hiệu trưởng quy định, trước khi bắt đầu học kỳ mới kế tiếp, sinh viên nhận mức điểm I phải trả xong các nội dung thi, kiểm tra bộ phận còn nợ để được chuyển điểm. Trường hợp sinh viên chưa trả nợ và chưa chuyển điểm nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ kế tiếp.


6. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà Phòng Đào tạo của Trường chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ khoa chuyển lên.


7. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:


a) Điểm học phần được đánh giá ở các mức điểm A, B, C, D trong đợt đánh giá đầu học kỳ (nếu có) đối với một số học phần được phép thi sớm để giúp sinh viên học vượt.


b) Những học phần được công nhận kết quả, khi sinh viên chuyển từ trường khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.





Điều 23. Cách tính điểm trung bình chung


1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi qua điểm số như sau:


A tương ứng với 4


B tương ứng với 3


C tương ứng với 2


D tương ứng với 1


F tương ứng với 0


2. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:



Trong đó:

A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy

ai là điểm của học phần thứ i

ni là số tín chỉ của học phần thứ i

n là tổng số học phần.

Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần thi thứ nhất (được tính khi đạt từ 17 tín chỉ trở lên). Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm thi kết thúc học phần cao nhất trong các lần thi.


Học bổng chỉ được cấp trong thời gian trong kế hoạch của khóa đào tạo; trong 6 học kỳ đối với hệ cao đẳng, 8 học kỳ đối với hệ đại học. Thời gian tạm dừng, kéo dài không được xét cấp học bổng


===================================================
Chương IV: XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

Điều 24. Thực tập cuối khóa, làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp

1. Năm học cuối khóa, các sinh viên được đăng ký làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và thi tốt nghiệp các môn Khoa học Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được quy định như sau:


a) Làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp: áp dụng cho sinh viên Đại học hoặc một số ngành cao đẳng theo quy định của Trường. Đối với sinh viên khối kinh tế đạt 7.0, khối kỹ thuật 6.5 Đồ án, khóa luận tốt nghiệp là học phần có khối lượng 7 tín chỉ cho hệ Đại học, 5 tín chỉ cho hệ Cao đẳng.


b) Thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp áp dụng cho sinh viên không được giao làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp sau khi đã tích lũy đủ số lượng học phần quy định cho chương trình, tùy theo khoa có thể lựa chọn một trong hai cách sau:


Cách 1: Nội dung thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp gồm hai phần: phần kiến thức cơ sở ngành và phần kiến thức chuyên môn được tổng hợp từ một số học phần bắt buộc thuộc chương trình với tổng khối lượng kiến thức tương đương với khối lượng kiến thức của đồ án hoặc khóa luận tốt nghiệp như quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Hiệu trưởng quy định nội dung và khối lượng kiến thức tính bằng tín chỉ của các phần kiến thức ôn tập đối với đối với từng chương trình cụ thể và công bố vào đầu năm hoặc cuối khóa học.


Cách 2: Sinh viên phải đăng ký học thêm và thi một số học phần chuyên môn mới (đại học 7 tín chỉ, cao đẳng 5 tín chỉ)


c) Thi tốt nghiệp các môn Khoa học Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh áp dụng cho tất cả sinh viên hệ đại học, cao đẳng theo quy định của bộ Giáo dục và Đào tạo.


2. Sinh viên được tạo điều kiện làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp kết hợp với thời gian thực tập chuyên môn cuối khóa


3. Sinh viên đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì không được đăng ký làm đồ án khóa luận tốt nghiệp

Điều 25. Chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp

1. Hiệu trưởng quyết định danh sách giảng viên chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Việc chấm mỗi đồ án, khóa luận tốt nghiệp phải do 2 giảng viên đảm nhiệm.

2. Điểm của đồ án, khoá luận tốt nghiệp được chấm theo thang điểm chữ theo quy định tại các mục a và b, khoản 2, Điều 22 của Quy chế này. Kết quả chấm đồ án, khóa luận tốt nghiệp được công bố chậm nhất là 3 tuần, kể từ ngày nộp đồ án, khóa luận tốt nghiệp.

Điểm đồ án, khoá luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học.

3. Sinh viên có đồ án, khoá luận tốt nghiệp bị điểm F, phải đăng ký làm lại đồ án, khóa luận tốt nghiệp; hoặc phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn để thay thế, sao cho tổng số tín chỉ của các học phần chuyên môn học thêm tương đương với số tín chỉ của đồ án, khóa luận tốt nghiệp.


Điều 26. Thực tập cuối khoá
Thời gian thực tập cuối khóa là 2 tháng (5 tín chỉ) dành cho cả bậc đại học và cao đẳng

Điều 27. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp

1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được Trường xét và công nhận tốt nghiệp:

a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;

b) Tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình đào tạo: với khối lượng 140-150 tín chỉ đối với khoá đại học 4 năm; 100-110 tín chỉ đối với khoá cao đẳng 3 năm; 50-60 tín chỉ đối với khoá đại học liên thông;

c) Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;

đ) Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất. Thi đạt môn lý luận chính trị (là môn thi điều kiện kết thúc khóa học), ở cả hai trình độ đại học và cao đẳng.

2. Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Hội đồng xét tốt nghiệp trường do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, Trưởng Phòng Đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các Trưởng Khoa chuyên môn, Trưởng Phòng Quản lý Sinh viên – Học sinh và Thanh tra Giáo dục.

3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.


Điều 28. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo

1. Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính (đơn ngành hoặc song ngành). Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học, như sau:


a) Loại xuất sắc: Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00;


b) Loại giỏi: Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59;


c) Loại khá: Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19;


d) Loại trung bình: Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49.


2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:


a) Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình;


b) Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.


3. Kết quả học tập của sinh viên phải được ghi vào bảng điểm theo từng học phần. Trong bảng điểm còn phải ghi chuyên ngành (hướng chuyên sâu) hoặc ngành phụ (nếu có).


4. Nếu kết quả học tập của sinh viên thỏa mãn những quy định tại khoản 1 Điều 27 của Quy chế này đối với một số chương trình đào tạo tương ứng với các ngành đào tạo khác nhau, thì sinh viên được cấp các bằng tốt nghiệp khác nhau tương ứng với các ngành đào tạo đó.


5. Sinh viên còn nợ chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về Trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.


6. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình của Trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng, được quyền làm đơn xin chuyển qua các chương trình khác theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Quy chế này.


7. Mỗi năm Nhà trường tổ chức 2 đợt xét tốt nghiệp và phát bằng cho những sinh viên đã tích lũy đủ tín chỉ .


================================================

Chương V: XỬ LÝ VI PHẠM


Điều 29. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra

1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, bài tập lớn, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị đồ án, khoá luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật với từng học phần đã vi phạm.


2. Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.


3. Trừ trường hợp như quy định tại khoản 2 của Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy.



cntt-tdd tổng hợp