Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

Nhiều người vẫn cho rằng muốn học tiếng Anh tốt cần phải sống ở nước ngoài, có một người bạn ngoại quốc và dành thật nhiều thời gian để học ngữ pháp và làm bài tập. Ông Tim Hood, Phó Giám Đốc Hội đồng Anh, Giám Đốc Trung Tâm Giảng Dạy Tiếng Anh từng dạy tiếng Anh tại Hội đồng Anh nhiều nước trên thế giới đã tổng kết từ những học trò xuất sắc của mình 7 kinh nghiệm quý báu để học tốt tiếng Anh.

1. Thích nói tiếng Anh và thoải mái khi nói

Khi sử dụng tiếng Anh, bạn đừng sợ mắc lỗi. Nếu bạn không mắc lỗi, có nghĩa là bạn không học được gì. Thường thì khi bạn sẽ mắc những lỗi nho nhỏ khi nói tiếng Anh với người nước ngoài. Nhưng điều quan trọng là những gì bạn rút ra sau khi mắc lỗi. Cũng giống như các em bé sẽ không thể tự bước đi được nếu như sợ vấp ngã.

2. Xác định xem bạn thích hợp với cách học nào

Nghiên cứu gần đây cho thấy rất nhiều người có cách học riêng mà mình yêu thích. Nếu bạn là người yêu thích hình ảnh, bạn có thể tạo ra một mối liên hệ giữa tiếng Anh và hình ảnh ví dụ bạn có thể xem phim có phụ đề tiếng Anh, cố gắng hình dung mình đang ở trong ngữ cảnh cần sử dụng tiếng Anh, liên tưởng các từ cần học với các hình ảnh. Nếu bạn là người có sở thích nghe, thì bạn hãy nghe càng nhiều bài hát tiếng Anh càng tốt và xem các phim tiếng Anh. Còn nếu bạn là người có đầu óc phân tích, hãy dành nhiều thời gian để học ngữ pháp và so sánh tiếng Việt với tiếng Anh.

Dĩ nhiên, một người học tiếng Anh tốt sẽ dành thời gian cho tất cả những việc này. Đáng tiếc là trên thế giới, rất nhiều người vẫn bị dạy theo cách truyền thống là chỉ chú trọng vào ngữ pháp và nghe.

3. Học cách ghi nhớ

Bạn có thể luyện trí nhớ của mình qua rất nhiều sách hướng dẫn. Hầu hết tất cả các học sinh giỏi tiếng Anh đều rất coi trọng việc này.

4. Tạo ra cho mình một môi trường tiếng Anh

Một doanh nhân thành đạt người Tây Ban Nha đã học tiếng Anh bằng cách dán những mẩu giấy vàng khắp nơi trong nhà mình để đi tới đâu dù là xuống bếp pha một tách cà phê, vào nhà tắm cạo râu hay dùng điều khiển ti-vi để đổi kênh, anh đều nhìn thấy những từ ghi trên đó. Khi anh đã thuộc những từ này rồi, anh thay bằng những từ mới. Bằng cách này, ngày nào anh cũng học được khoảng 10 từ, cả 7 ngày trong tuần. Bạn hãy tranh thủ đọc, nghe và nói tiếng anh ở mọi nơi, mọi lúc.

5. Hãy nối mạng

Tôi biết một cô gái người ngoại thành Hà Nội. Cứ 3 lần một tuần, cô đi xe máy đến một nơi mà cô có thể nói tiếng Anh với những người bạn của mình tại Anh, Úc và Mỹ. Đó là một quán cà-phê Internet có dịch vụ voice chat.

Internet đã mang đến nhiều lợi ích cho người học ngoại ngữ. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều website hữu dụng để học ngữ pháp, từ vựng, phát âm và bây giờ, quan trọng hơn cả là: giao tiếp.

6. Học từ vựng một cách có hệ thống

Xin bạn lưu ý rằng học tiếng Anh không chỉ đơn thuần là học ngữ pháp. Khi giao tiếp, bạn lựa chọn từ vựng, kết hợp chúng và tạo thành câu để biểu đạt ý kiến của mình. Khi học từ vựng, bạn hãy bố trí sổ ghi chép của mình sao cho hợp lý. Đừng liệt kê một dãy dài các từ, ngữ mới mà hãy chia sổ của bạn ra thành từng mục chẳng hạn:

Chủ đề: shopping, holidays, money vv…
Động từ và danh từ đi liền kề: do your homework, make a cake vv…
Động từ kép: to grow up, to tell off, to look after vv…
Ngữ cố định: on the other hand, in my opinion, by the way vv….
Thành ngữ: once in a blue moon, to be over the moon, out of the blue vv….
Ngữ có giới từ: at night, at the weekend, in March, in 2003 vv…..

7. Bạn hãy phấn khích lên

Bạn hãy khởi động và làm ngay những việc bạn có thể làm ngày hôm nay, đừng để đến ngày mai. Hồi còn ở London, tôi có một cô bạn người Thái Lan theo học nghành thiết kế thời trang. Cô ấy nói tiếng Anh rất siêu. Từ khi cô 15 tuổi, cô đã tự xác định mục đích và ước mơ của mình là học nghành thời trang ở London. Cô đã tìm hiểu mức điểm IELTS cần thiết để có thể vào trường mà cô mơ ước rồi bắt tay vào học tiếng Anh ngay lập tức. Đến năm 19 tuổi, nghĩa là đã đủ tuổi để được nhận vào học, thì cô đã sẵn sàng mọi thứ. Sự khởi đầu sớm của cô quả là khôn ngoan vì một năm sau, khi khoá học kết thúc, cô trở về Thái Lan thì lúc đó bạn bè cô vẫn đang cần mẫn học tiếng Anh chờ thời điểm đi nước ngoài. Bây giờ thì cô ấy đã là một người nói tiếng Anh thành thạo, có trình độ và thành đạt.

(CNTT-TDD - Tổng hợp)

7 kinh nghiệm để học tốt tiếng Anh cho người mới bắt đầu

Nhiều người vẫn cho rằng muốn học tiếng Anh tốt cần phải sống ở nước ngoài, có một người bạn ngoại quốc và dành thật nhiều thời gian để học ngữ pháp và làm bài tập. Ông Tim Hood, Phó Giám Đốc Hội đồng Anh, Giám Đốc Trung Tâm Giảng Dạy Tiếng Anh từng dạy tiếng Anh tại Hội đồng Anh nhiều nước trên thế giới đã tổng kết từ những học trò xuất sắc của mình 7 kinh nghiệm quý báu để học tốt tiếng Anh.

1. Thích nói tiếng Anh và thoải mái khi nói

Khi sử dụng tiếng Anh, bạn đừng sợ mắc lỗi. Nếu bạn không mắc lỗi, có nghĩa là bạn không học được gì. Thường thì khi bạn sẽ mắc những lỗi nho nhỏ khi nói tiếng Anh với người nước ngoài. Nhưng điều quan trọng là những gì bạn rút ra sau khi mắc lỗi. Cũng giống như các em bé sẽ không thể tự bước đi được nếu như sợ vấp ngã.

2. Xác định xem bạn thích hợp với cách học nào

Nghiên cứu gần đây cho thấy rất nhiều người có cách học riêng mà mình yêu thích. Nếu bạn là người yêu thích hình ảnh, bạn có thể tạo ra một mối liên hệ giữa tiếng Anh và hình ảnh ví dụ bạn có thể xem phim có phụ đề tiếng Anh, cố gắng hình dung mình đang ở trong ngữ cảnh cần sử dụng tiếng Anh, liên tưởng các từ cần học với các hình ảnh. Nếu bạn là người có sở thích nghe, thì bạn hãy nghe càng nhiều bài hát tiếng Anh càng tốt và xem các phim tiếng Anh. Còn nếu bạn là người có đầu óc phân tích, hãy dành nhiều thời gian để học ngữ pháp và so sánh tiếng Việt với tiếng Anh.

Dĩ nhiên, một người học tiếng Anh tốt sẽ dành thời gian cho tất cả những việc này. Đáng tiếc là trên thế giới, rất nhiều người vẫn bị dạy theo cách truyền thống là chỉ chú trọng vào ngữ pháp và nghe.

3. Học cách ghi nhớ

Bạn có thể luyện trí nhớ của mình qua rất nhiều sách hướng dẫn. Hầu hết tất cả các học sinh giỏi tiếng Anh đều rất coi trọng việc này.

4. Tạo ra cho mình một môi trường tiếng Anh

Một doanh nhân thành đạt người Tây Ban Nha đã học tiếng Anh bằng cách dán những mẩu giấy vàng khắp nơi trong nhà mình để đi tới đâu dù là xuống bếp pha một tách cà phê, vào nhà tắm cạo râu hay dùng điều khiển ti-vi để đổi kênh, anh đều nhìn thấy những từ ghi trên đó. Khi anh đã thuộc những từ này rồi, anh thay bằng những từ mới. Bằng cách này, ngày nào anh cũng học được khoảng 10 từ, cả 7 ngày trong tuần. Bạn hãy tranh thủ đọc, nghe và nói tiếng anh ở mọi nơi, mọi lúc.

5. Hãy nối mạng

Tôi biết một cô gái người ngoại thành Hà Nội. Cứ 3 lần một tuần, cô đi xe máy đến một nơi mà cô có thể nói tiếng Anh với những người bạn của mình tại Anh, Úc và Mỹ. Đó là một quán cà-phê Internet có dịch vụ voice chat.

Internet đã mang đến nhiều lợi ích cho người học ngoại ngữ. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều website hữu dụng để học ngữ pháp, từ vựng, phát âm và bây giờ, quan trọng hơn cả là: giao tiếp.

6. Học từ vựng một cách có hệ thống

Xin bạn lưu ý rằng học tiếng Anh không chỉ đơn thuần là học ngữ pháp. Khi giao tiếp, bạn lựa chọn từ vựng, kết hợp chúng và tạo thành câu để biểu đạt ý kiến của mình. Khi học từ vựng, bạn hãy bố trí sổ ghi chép của mình sao cho hợp lý. Đừng liệt kê một dãy dài các từ, ngữ mới mà hãy chia sổ của bạn ra thành từng mục chẳng hạn:

Chủ đề: shopping, holidays, money vv…
Động từ và danh từ đi liền kề: do your homework, make a cake vv…
Động từ kép: to grow up, to tell off, to look after vv…
Ngữ cố định: on the other hand, in my opinion, by the way vv….
Thành ngữ: once in a blue moon, to be over the moon, out of the blue vv….
Ngữ có giới từ: at night, at the weekend, in March, in 2003 vv…..

7. Bạn hãy phấn khích lên

Bạn hãy khởi động và làm ngay những việc bạn có thể làm ngày hôm nay, đừng để đến ngày mai. Hồi còn ở London, tôi có một cô bạn người Thái Lan theo học nghành thiết kế thời trang. Cô ấy nói tiếng Anh rất siêu. Từ khi cô 15 tuổi, cô đã tự xác định mục đích và ước mơ của mình là học nghành thời trang ở London. Cô đã tìm hiểu mức điểm IELTS cần thiết để có thể vào trường mà cô mơ ước rồi bắt tay vào học tiếng Anh ngay lập tức. Đến năm 19 tuổi, nghĩa là đã đủ tuổi để được nhận vào học, thì cô đã sẵn sàng mọi thứ. Sự khởi đầu sớm của cô quả là khôn ngoan vì một năm sau, khi khoá học kết thúc, cô trở về Thái Lan thì lúc đó bạn bè cô vẫn đang cần mẫn học tiếng Anh chờ thời điểm đi nước ngoài. Bây giờ thì cô ấy đã là một người nói tiếng Anh thành thạo, có trình độ và thành đạt.

(CNTT-TDD - Tổng hợp)

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

(Bài viết chỉ mang tính tham khảo cho sinh viên hệ tín chỉ)
Chương I: những quy định chung




Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Quy chế này quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp.

2. Quy chế này áp dụng đối với sinh viên các khoá đào tạo hệ chính quy đối với trình độ đại học và cao đẳng ở Trường Đại học thực hiện theo hình thức tích luỹ tín chỉ.

Điều 2. Chương trình giáo dục đại học

1. Chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi là chương trình đào tạo, hoặc gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học.

2. Chương trình được Nhà trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành; kiểu ngành chính - ngành phụ; kiểu 2 văn bằng).

3. Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.


Khối kiến thức giáo dục đại cương (gồm các môn học thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học nhân văn, khoa học tự nhiên) nhằm trang bị cho người học: thế giới quan khoa học và nhân sinhquan, hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người, nắm vững phương pháp tư duy khoa học, biết trân trọng các di sản văn hóa của dân tộc và nhân loại

Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp gồm: nhóm kiến thức cơ sở khối ngành hoặc nhóm ngành, nhóm kiến thức cơ sở ngành (kể cả kiến thức chuyên ngành), thực tập tốt nghiệp, khóa luận hoặc đồ án tốt nghiệp nhằm cung cấp cho người học những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cơ bản cần thiết

Các môn học trong chương trình đào tạo được sắp xếp theo trình tự nhất định vào từng học kỳ của khóa đào tạo. Đây là trình tự học mà Nhà trường khuyến cáo sinh viên nên tuân theo thông qua cố vấn học tập để thuận lợi nhất cho việc tiếp thu kiến thức

Điều 3. Học phần và Tín chỉ

1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Học phần có khối lượng từ 2 đến 5 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theonăm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã số riêng.

2. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.

a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;

b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của Nhà trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình.

3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết. Cứ 15 tiết bài tập; 30 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, làm tiểu luận; 45 tiết thực tập, kiến tập, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp; 60 giờ thực tập tại cơ sở thì được tính tương đương 1 tín chỉ

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

4. Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ.

5. Một tiết học được tính bằng 45 phút.

6. Học phần tiên quyết:

Học phần A gọi là học phần tiên quyết của học phần B nếu điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã học xong học phần A và kết quả thi đạt yêu cầu

7. Học phần trước:

Học phần A gọi là học phần trước của học phần B nếu điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã học xong học phần A (kết quả thi có thể chưa đạt). Sinh viên được phép đăng ký học phần B vào học kỳ tiếp sau học kỳ đã học học phần A

8. Học phần song hành:

Học phần A gọi là học phần song hành của học phần B nếu điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã đăng ký học phần A. Sinh viên được phép đăng ký học phần B vào cùng học kỳ đã đăng ký học phần A hoặc vào các học kỳ tiếp theo.

9. Học phí tín chỉ

Học phí tín chỉ được xác định căn cứ theo chi phí của các hoạt động giảng dạy học tập, cơ sở vật chất tính cho một tín chỉ. Học phí thu theo học kỳ được xác định theo số tín chỉ mà sinh viên đã đăng ký học trong học kỳ đó. Mức học phí do Hiệu trưởng quy định cho từng bậc học và từng hệ đào tạotheo từng năm học (có quy định riêng )

Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy

Thời gian hoạt động giảng dạy của trường được tính từ 7giờ đến 21 giờ hằng ngày.

Tuỳ theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của trường, Trưởng Phòng Đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp.

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).


2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.


3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D tính từ đầu khóa học.


4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần và được đánh giá bằng các điểm chữ A, B, C, D mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.


===================================================


Chương II: TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo

1. Nhà trường tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.

a) Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Tuỳ thuộc chương trình, khoá học được quy định như sau:

- Đào tạo trình độ cao đẳng, một khóa học được thực hiện trong ba năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; 1,5 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp cùng ngành đào tạo.

- Đào tạo trình độ đại học, một khóa học được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; 1,5 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo.

b) Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 14 tuần thực học và 3 tuần thi. Ngoài hai học kỳ chính, Nhà trường còn tổ chức thêm một kỳ học hè để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù hoặc học vượt. Mỗi học kỳ hè có ít nhất 6 tuần thực học và 2 tuần thi.

2. Căn cứ vào khối lượng và nội dung kiến thức tối thiểu quy định cho các chương trình, Hiệu trưởng phân bổ số học phần cho từng năm học, từng học kỳ.

3. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bằng hai lần thời gian thiết kế cho chương trình quy định tại khoản 1 của Điều này.

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.

Điều 7. Đăng ký nhập học

1. Sinh viên trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh đại học cao đẳng khi nhập học phải nộp các giấy tờ theoquy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng chính quy hiện hành. Hồ sơ sinh viên nhập học doTrung tâm tuyển sinh và Giới thiệu việc làm quản lý.

2. Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, Trung tâm tuyển sinh và Giới thiệu việc làm trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận người đến học là sinh viên chính thức của Trường và cấp cho họ:

a) Thẻ sinh viên;

b) Sổ đăng ký học tập;

c) Phiếu nhận cố vấn học tập.

3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại Quy chế hiện hành về tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy.

4. Sinh viên nhập học được Nhà trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.


Điều 8. Sắp xếp sinh viên vào học các chương trình hoặc ngành đào tạo

Nhà trường xác định điểm trúng tuyển dựa vào kết quả trong kỳ thi tuyển sinh đại học cao đẳng của thí sinh. Thí sinh trúng tuyển nhập học sẽ được Nhà trường sắp xếp vào học các chương trình (hoặc ngành đào tạo) đã đăng ký. Trường hợp đổi ngành học hoặc đăng ký học ngành thứ hai thí sinh phải đạt điểm chuẩn đầu vào của ngành xin học được xác định trong bảng điểm trúng tuyển đã công bố.

Điều 9. Tổ chức lớp học

a). Lớp học phần

Lớp học phần là lớp học được tổ chức theo từng học phần dựa vào đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở từng học kỳ, trong cùng thời điểm. Mỗi lớp học phần được gắn với một mã số riêng. Số lượng sinh viên của một lớp học phần được giới hạn bởi sức chứa của phòng học hoặc phòng thí nghiệm. Nếu số lượng sinh viên đăng ký thấp hơn số lượng tối thiểu quy định thì lớp học sẽ không được tổ chức và sinh viên phải đăng ký chuyển sang học những học phần khác có lớp, nếu chưa đảm bảo đủ quy định về khối lượng học tập tối thiểu cho mỗi học kỳ. Số lượng tối thiểu để xem xét mở lớp học phần trong học kỳ đối với lớp học lý thuyết là:

Ít nhất 70 sinh viên cho những học phần cơ bản, cơ sở của các nhóm ngành lớn và 50 sinh viên cho các học phần khác

Trong trường hợp các học phần chuyên ngành, nếu có đề nghị của Khoa quản lý ngành, Trường sẽ xem xét để mở các lớp có sỹ số dưới 50 sinh viên

Những sinh viên đã tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định được làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp trong mỗi học kỳ chính. Các học phần thí nghiệm, thực tập được mở lớp theo khả năng sắp xếp đảm nhận của Khoa chủ quản.

b) Lớp sinh viên và giảng viên chủ nhiệm.


Lớp sinh viên là một lớp có tên riêng gắn với Khoa, khóa học, ngành đào tạo và do một giảng viên chủ nhiệm phụ trách, giảng viên này đồng thời đảm nhiệm vai trò cố vấn học tập cho sinh viên trong lớp về các vấn đề học vụ, giúp đỡ sinh viên lập kế hoạch học tập trong từng học kỳ và cho toàn khóa học.


Tổ chức, hoạt động của lớp sinh viên, vai trò, trách nhiệm của giảng viên chủ nhiệm được quy định trong Quy chế công tác sinh viên của Trường


Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập

1. Đầu mỗi năm học, Phòng Đào tạo thông báo lịch trình học dự kiến cho từng chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ dạy, đề cương chi tiết, điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần.

2. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, sinh viên phải theo dõi các thông báo về kế hoạch đăng ký các học phần của Phòng Đào tạo và của các Khoa để chủ động đăng ký trên mạng hoặc trên website của Trường.

3. Khối lượng học tập mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ được quy định như sau:

a) Tối thiểu 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

b) 10-14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu.

c) Trường hợp học vượt đối với sinh viên có học lực khá trở lên, tối đa 23 tín chỉ đối với hệ đại học, cao đẳng cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa. Riêng đối với chuyên ngành tiếng Anh từ 24 tín chỉ đến 32 tín chỉ đối với hệ đại học, từ 24 đến 30 tín chỉ đối với hệ cao đẳng.

d) Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ hè.

5. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể.

6. Đối với những khóa mới nhập học Phòng Đào tạo sẽ đăng ký cho sinh viên những học phần của học kỳ I, từ học kỳ II đến cuối khóa học sinh viên tự đăng ký học phần học tập.

7. Phòng Đào tạo của Trường chỉ nhận đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở mỗi học kỳ khi đã có chữ ký chấp thuận của cố vấn học tập trong sổ đăng ký học tập. Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên theo từng học kỳ phải được ghi vào phiếu đăng ký học do Phòng Đào tạo của Trường lưu giữ.


Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký

1. Việc rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký chỉ được chấp nhận sau 1 tuần kể từ đầu học kỳ chính, nhưng không muộn quá 4 tuần; sau 1 tuần kể từ đầu học kỳ hè, nhưng không muộn quá 2 tuần. Ngoài thời hạn trên học phần vẫn được giữ nguyên trong phiếu đăng ký học và nếu sinh viên không đi học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.

2. Điều kiện rút bớt các học phần đã đăng ký:

a) Sinh viên phải tự viết đơn gửi Phòng Đào tạo của trường để xét;

b) Được cố vấn học tập chấp thuận.

c) Không vi phạm khoản 2, Điều 10 của Quy chế này.

Sinh viên chỉ được phép bỏ lớp đối với học phần xin rút bớt, sau khi giảng viên phụ trách học phần và Trưởng đơn vị đào tạo nhận giấy báo chấp thuận của Phòng Đào tạo.

Điều 12. Đăng ký học lại

1. Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D.

2. Sinh viên có học phần tự chọn bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó hoặc học đổi sang học phần tự chọn tương đương khác.

3. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này, sinh viên được quyền đăng ký học lại hoặc học đổi sang học phần khác (trường hợp các học phần tự chọn) đối với các học phần bị điểm D, C để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy.

4. Sinh viên phải theo dõi trên bảng tin và website của trường để đăng ký học lại, thi lại.

Điều 13. Nghỉ ốm
Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép gửi trưởng khoa trong vòng một tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của cơ quan y tế.


Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực

1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo như sau:

a) Sinh viên năm thứ nhất:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy dưới 35 tín chỉ;

b) Sinh viên năm thứ hai:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 36 tín chỉ đến dưới 70 tín chỉ;

c) Sinh viên năm thứ ba:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 71 tín chỉ đến dưới 105 tín chỉ;

d) Sinh viên năm thứ tư:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 106 tín chỉ trở lên

2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:

a) Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên.

b) Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00, nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học.

3. Kết quả học tập trong học kỳ hè được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ chính ngay trước đó để xếp hạng sinh viên về học lực.

Điều 15. Nghỉ học tạm thời

1. Sinh viên được quyền viết đơn gửi Hiệu trưởng xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:

a) Được điều động vào các lực lượng vũ trang;

b) Bị ốm hoặc tai nạn phải điều trị thời gian dài, nhưng phải có giấy xác nhận của cơ quan y tế;

c) Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở Trường, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học quy định tại Điều 16 của Quy chế này và phải đạt điểm trung bình chung tích lũy không dưới 2,00. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này.

2. Sinh viên nghỉ học tạm thời, khi muốn trở lại học tiếp tại Trường, phải viết đơn gửi Hiệu trưởng ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới .

Điều 16. Bị buộc thôi học

1. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a) Có điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa học; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo hoặc đạt dưới 1,10 đối với 2 học kỳ liên tiếp;

b) Có điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 1,20 đối với sinh viên năm thứ nhất; dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ hai; dưới 1,60 đối với sinh viên năm thứ ba hoặc dưới 1,80 đối với sinh viên các năm tiếp theo và cuối khoá;

c) Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại Trường quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này;

d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Quy chế này hoặc bị kỷ luật ở mức xoá tên khỏi danh sách sinh viên của Trường.

2. Chậm nhất là một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, Nhà trường gửi thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Những sinh viên thuộc diện bị buộc thôi học quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 của Điều này, được quyền xin xét chuyển qua các chương trình đào tạo thấp hơn và được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học ở các chương trình đào tạo mới này. Hiệu trưởng xem xét quyết định cho bảo lưu kết quả học tập đối với từng trường hợp cụ thể.


Điều 17. Học cùng lúc hai chương trình
1. Sinh viên học cùng lúc hai chương trình là sinh viên có nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.

2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:

a) Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo chính ở chương trình thứ nhất;

b) Sau khi đã kết thúc học kỳ thứ nhất năm học đầu tiên của chương trình thứ nhất;

c) Sinh viên không thuộc diện xếp hạng học lực yếu ở chương trình thứ nhất;

3. Sinh viên đang học thêm chương trình thứ hai, nếu rơi vào diện bị xếp hạng học lực yếu của chương trình thứ hai, phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo.

4. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng lúc hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này. Khi học chương trình thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất.

5. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.

Điều 18. Chuyển trường


1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:


a) Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;


b) Xin chuyển đến trường có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;


c) Được sự đồng ý của hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến;


d) Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy định tại khoản 2 Điều này.


2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:


a) Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng tuyển vào trường hoặc có kết quả thi thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến;


b) Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển quy định của trường xin chuyển đến;


c) Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;


d) Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.


3. Thủ tục chuyển trường:


a) Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của nhà trường;


b) Hiệu trưởng trường có sinh viên xin chuyển đến quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận; quyết định việc học tập tiếp tục của sinh viên, công nhận các học phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường sinh viên xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.


=====================================================


Chương III: KIỂM TRA VÀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN


Điều 19. Đánh giá học phần

1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (sau đây gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong qúa trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần, điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50%.


Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết của học phần.


2. Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành. Điểm trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành.


3. Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề kiểm tra giữa kỳ và cho điểm đánh giá bộ phận của điểm học phần. Ra đề thi và chấm thi kết thúc học phần được thực hiện theo điều 21 của Quy chế này.


4. Sinh viên dự thi kết thúc học phần phải đạt đủ các điều kiện sau:


- Đủ bài kiểm tra giữa kỳ;


- Số giờ nghỉ học không quá 20% tổng số giờ của học phần đó.


- Không bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên liên quan đến học tập học phần đó.


a. Đối với những học phần không làm tiểu luận điểm học phần tính như sau:


Đ.HP = 60% Đ.KTHP + 20% Đ.GHP + 20% Đ.TBKTTX

Trong đó:

Đ.HP: Điểm học phần.

Đ.KTHP: Điểm thi kết thúc học phần ( phải 4 mới tính các điểm khác)

Đ. GHP: Điểm kiểm tra giữa học phần. Với những học phần có 1 - 3 tín chỉ sẽ có 01 bài kiểm tra giữa kỳ; nếu có từ 4 – 5 tín chỉ sẽ có 02 bài kiểm tra trong học kỳ.

Đ. TBKTTX: Điểm trung bình kiểm tra thường xuyên, gồm:
- Điểm trung bình chấm kết quả các bài tập về nhà;
- Điểm đánh giá trả lời nhanh trên lớp hoặc thảo luận nhóm, hội thảo .



Sinh viên có 2 lần vào lớp muôn quá 10 phút tính bằng một buổi vắng mặt;

Sinh viên nghỉ có phép hợp lệ sẽ được tính điểm rèn luyện nhưng vẫn bị tính vào thời gian vắng mặt của môn học.

(Giấy phép được coi là hợp lệ khi nghỉ ốm đau có xác nhận của y tế, vì lý do cá nhân phải có ý kiến của gia đình hoặc xác nhân của Chính quyền địa phương, phải đưa đến giáo viên chủ nhiệm và Phòng Quản lý SV-HS trước giờ học xin được nghỉ)

- Điểm đánh giá số lượng các bài tập hoàn thành ở nhà: 90% - 100% được 10 điểm, 70% - cận 90%: 8 điểm; 50% - cận 70%: 6 điểm; dưới 50%: 0 điểm.

- Điểm đánh giá thái độ tham gia thảo luận nhóm, hội thảo: tham gia đầy đủ và có bài tham luận : + 5 điểm; tham gia đầy đủ không có bài tham luận: 0 điểm, tham gia không đầy đủ: - 5 điểm.

b. Đối với những học phần có làm tiểu luận hoặc bài tập lớn thì lấy điểm tiểu luận hoặc bài tập lớn thay cho điểm thi giữa học phần.

c. Mỗi ngành công nghệ hoặc kỹ thuật có hai môn cốt lõi cho sinh viên làm đồ án môn học. Điểm đồ án gọi là điểm làm đồ án cộng tên môn học với số tín chỉ bằng ½ tín chỉ của môn học .


Điều 20. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần

1. Cuối mỗi học kỳ, Nhà trường tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có học phần bị điểm F ở kỳ thi chính và được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính.(Những sinh viên đạt điểm B, C và D trong kỳ thi chính muốn thi lại để cải thiện điểm thì đăng ký trong học kỳ hè hoặc trong các học kỳ sau)


2. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó, ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ. Tùy theo từng trường hợp Hiệu trưởng quy định cụ thể thời gian dành cho ôn thi và thời gian thi cho các kỳ thi.


Điều 21. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần

1. Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình. Việc ra đề thi hoặc lấy từ ngân hàng đề thi được thực hiện theo quy định của Hiệu trưởng.


2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Hiệu trưởng duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần.


2. Khoa quản lý lớp học phần quản lý toàn bộ quá trình giảng dạy kiểm tra đánh giá, danh sách sinh viên trong lớp, tổ chức thi kết thúc học phần, quản lý điểm. Giảng viên phụ trách học phần chịu trách nhiệm giảng dạy, thực hiện các hình thức kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy, tham gia với khoa quản lý lớp học phần, tổ chức, ra đề, chấm thi kết thúc học phần.


3. Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm.


Việc bảo quản các bài thi, quy trình chấm thi và lưu giữ các bài thi sau khi chấm theo quy định của Hiệu trưởng. Thời gian lưu giữ các bài thi viết, tiểu luận, bài tập lớn ít nhất là hai năm, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận, bài tập lớn.


4. Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi. Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình trưởng bộ môn hoặc trưởng khoa quyết định.


Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của Trường, có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi và làm thành 2 bản. Một bản lưu tại văn phòng khoa và nộp điểm của từng học phần về Phòng Đào tạo chậm nhất một tuần sau khi thi xong học phần đó.


5. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính. Những sinh viên này khi được trưởng khoa cho phép được dự thi một lần ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có).


6. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính, nếu được Trưởng Khoa cho phép, được dự thi ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có), điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu. Trường hợp không có kỳ thi phụ hoặc thi không đạt trong kỳ thi phụ những sinh viên này sẽ phải dự thi tại các kỳ thi kết thúc học phần ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ.



Điều 22. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần

1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.

2. Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:


a) Loại đạt:


A (8,5 - 10) Giỏi


B (7,0 - 8,4) Khá


C (5,5 - 6,9) Trung bình


D (4,0 - 5,4) Trung bình yếu


b) Loại không đạt: F (dưới 4,0) Kém


c) Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các kí hiệu sau:


I : Chưa đủ dữ liệu đánh giá.


X : Chưa nhận được kết quả thi.


d) Đối với những học phần được nhà trường cho phép chuyển điểm, khi xếp mức đánh giá được sử dụng kí hiệu R viết kèm với kết quả.


3. Việc xếp loại các mức điểm A, B, C, D, F được áp dụng cho các trường hợp sau đây:


a) Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;


b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;


c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.


4. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản 3 Điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm nội quy thi, có quyết định phải nhận mức điểm F.


5. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:


a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được trưởng khoa cho phép;


b) Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách quan, được trưởng khoa chấp thuận.


Trừ các trường hợp đặc biệt do Hiệu trưởng quy định, trước khi bắt đầu học kỳ mới kế tiếp, sinh viên nhận mức điểm I phải trả xong các nội dung thi, kiểm tra bộ phận còn nợ để được chuyển điểm. Trường hợp sinh viên chưa trả nợ và chưa chuyển điểm nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ kế tiếp.


6. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà Phòng Đào tạo của Trường chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ khoa chuyển lên.


7. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:


a) Điểm học phần được đánh giá ở các mức điểm A, B, C, D trong đợt đánh giá đầu học kỳ (nếu có) đối với một số học phần được phép thi sớm để giúp sinh viên học vượt.


b) Những học phần được công nhận kết quả, khi sinh viên chuyển từ trường khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.





Điều 23. Cách tính điểm trung bình chung


1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi qua điểm số như sau:


A tương ứng với 4


B tương ứng với 3


C tương ứng với 2


D tương ứng với 1


F tương ứng với 0


2. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:



Trong đó:

A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy

ai là điểm của học phần thứ i

ni là số tín chỉ của học phần thứ i

n là tổng số học phần.

Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần thi thứ nhất (được tính khi đạt từ 17 tín chỉ trở lên). Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm thi kết thúc học phần cao nhất trong các lần thi.


Học bổng chỉ được cấp trong thời gian trong kế hoạch của khóa đào tạo; trong 6 học kỳ đối với hệ cao đẳng, 8 học kỳ đối với hệ đại học. Thời gian tạm dừng, kéo dài không được xét cấp học bổng


===================================================
Chương IV: XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

Điều 24. Thực tập cuối khóa, làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp

1. Năm học cuối khóa, các sinh viên được đăng ký làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và thi tốt nghiệp các môn Khoa học Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được quy định như sau:


a) Làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp: áp dụng cho sinh viên Đại học hoặc một số ngành cao đẳng theo quy định của Trường. Đối với sinh viên khối kinh tế đạt 7.0, khối kỹ thuật 6.5 Đồ án, khóa luận tốt nghiệp là học phần có khối lượng 7 tín chỉ cho hệ Đại học, 5 tín chỉ cho hệ Cao đẳng.


b) Thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp áp dụng cho sinh viên không được giao làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp sau khi đã tích lũy đủ số lượng học phần quy định cho chương trình, tùy theo khoa có thể lựa chọn một trong hai cách sau:


Cách 1: Nội dung thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp gồm hai phần: phần kiến thức cơ sở ngành và phần kiến thức chuyên môn được tổng hợp từ một số học phần bắt buộc thuộc chương trình với tổng khối lượng kiến thức tương đương với khối lượng kiến thức của đồ án hoặc khóa luận tốt nghiệp như quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Hiệu trưởng quy định nội dung và khối lượng kiến thức tính bằng tín chỉ của các phần kiến thức ôn tập đối với đối với từng chương trình cụ thể và công bố vào đầu năm hoặc cuối khóa học.


Cách 2: Sinh viên phải đăng ký học thêm và thi một số học phần chuyên môn mới (đại học 7 tín chỉ, cao đẳng 5 tín chỉ)


c) Thi tốt nghiệp các môn Khoa học Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh áp dụng cho tất cả sinh viên hệ đại học, cao đẳng theo quy định của bộ Giáo dục và Đào tạo.


2. Sinh viên được tạo điều kiện làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp kết hợp với thời gian thực tập chuyên môn cuối khóa


3. Sinh viên đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì không được đăng ký làm đồ án khóa luận tốt nghiệp

Điều 25. Chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp

1. Hiệu trưởng quyết định danh sách giảng viên chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Việc chấm mỗi đồ án, khóa luận tốt nghiệp phải do 2 giảng viên đảm nhiệm.

2. Điểm của đồ án, khoá luận tốt nghiệp được chấm theo thang điểm chữ theo quy định tại các mục a và b, khoản 2, Điều 22 của Quy chế này. Kết quả chấm đồ án, khóa luận tốt nghiệp được công bố chậm nhất là 3 tuần, kể từ ngày nộp đồ án, khóa luận tốt nghiệp.

Điểm đồ án, khoá luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học.

3. Sinh viên có đồ án, khoá luận tốt nghiệp bị điểm F, phải đăng ký làm lại đồ án, khóa luận tốt nghiệp; hoặc phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn để thay thế, sao cho tổng số tín chỉ của các học phần chuyên môn học thêm tương đương với số tín chỉ của đồ án, khóa luận tốt nghiệp.


Điều 26. Thực tập cuối khoá
Thời gian thực tập cuối khóa là 2 tháng (5 tín chỉ) dành cho cả bậc đại học và cao đẳng

Điều 27. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp

1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được Trường xét và công nhận tốt nghiệp:

a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;

b) Tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình đào tạo: với khối lượng 140-150 tín chỉ đối với khoá đại học 4 năm; 100-110 tín chỉ đối với khoá cao đẳng 3 năm; 50-60 tín chỉ đối với khoá đại học liên thông;

c) Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;

đ) Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất. Thi đạt môn lý luận chính trị (là môn thi điều kiện kết thúc khóa học), ở cả hai trình độ đại học và cao đẳng.

2. Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Hội đồng xét tốt nghiệp trường do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, Trưởng Phòng Đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các Trưởng Khoa chuyên môn, Trưởng Phòng Quản lý Sinh viên – Học sinh và Thanh tra Giáo dục.

3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.


Điều 28. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo

1. Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính (đơn ngành hoặc song ngành). Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học, như sau:


a) Loại xuất sắc: Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00;


b) Loại giỏi: Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59;


c) Loại khá: Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19;


d) Loại trung bình: Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49.


2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:


a) Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình;


b) Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.


3. Kết quả học tập của sinh viên phải được ghi vào bảng điểm theo từng học phần. Trong bảng điểm còn phải ghi chuyên ngành (hướng chuyên sâu) hoặc ngành phụ (nếu có).


4. Nếu kết quả học tập của sinh viên thỏa mãn những quy định tại khoản 1 Điều 27 của Quy chế này đối với một số chương trình đào tạo tương ứng với các ngành đào tạo khác nhau, thì sinh viên được cấp các bằng tốt nghiệp khác nhau tương ứng với các ngành đào tạo đó.


5. Sinh viên còn nợ chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về Trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.


6. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình của Trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng, được quyền làm đơn xin chuyển qua các chương trình khác theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Quy chế này.


7. Mỗi năm Nhà trường tổ chức 2 đợt xét tốt nghiệp và phát bằng cho những sinh viên đã tích lũy đủ tín chỉ .


================================================

Chương V: XỬ LÝ VI PHẠM


Điều 29. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra

1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, bài tập lớn, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị đồ án, khoá luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật với từng học phần đã vi phạm.


2. Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.


3. Trừ trường hợp như quy định tại khoản 2 của Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy.



cntt-tdd tổng hợp

Quy chế đào tạo theo hình thức TÍN CHỈ

(Bài viết chỉ mang tính tham khảo cho sinh viên hệ tín chỉ)
Chương I: những quy định chung




Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Quy chế này quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp.

2. Quy chế này áp dụng đối với sinh viên các khoá đào tạo hệ chính quy đối với trình độ đại học và cao đẳng ở Trường Đại học thực hiện theo hình thức tích luỹ tín chỉ.

Điều 2. Chương trình giáo dục đại học

1. Chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi là chương trình đào tạo, hoặc gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học.

2. Chương trình được Nhà trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành; kiểu ngành chính - ngành phụ; kiểu 2 văn bằng).

3. Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.


Khối kiến thức giáo dục đại cương (gồm các môn học thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học nhân văn, khoa học tự nhiên) nhằm trang bị cho người học: thế giới quan khoa học và nhân sinhquan, hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người, nắm vững phương pháp tư duy khoa học, biết trân trọng các di sản văn hóa của dân tộc và nhân loại

Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp gồm: nhóm kiến thức cơ sở khối ngành hoặc nhóm ngành, nhóm kiến thức cơ sở ngành (kể cả kiến thức chuyên ngành), thực tập tốt nghiệp, khóa luận hoặc đồ án tốt nghiệp nhằm cung cấp cho người học những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cơ bản cần thiết

Các môn học trong chương trình đào tạo được sắp xếp theo trình tự nhất định vào từng học kỳ của khóa đào tạo. Đây là trình tự học mà Nhà trường khuyến cáo sinh viên nên tuân theo thông qua cố vấn học tập để thuận lợi nhất cho việc tiếp thu kiến thức

Điều 3. Học phần và Tín chỉ

1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Học phần có khối lượng từ 2 đến 5 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theonăm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã số riêng.

2. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.

a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;

b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của Nhà trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình.

3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết. Cứ 15 tiết bài tập; 30 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, làm tiểu luận; 45 tiết thực tập, kiến tập, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp; 60 giờ thực tập tại cơ sở thì được tính tương đương 1 tín chỉ

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

4. Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ.

5. Một tiết học được tính bằng 45 phút.

6. Học phần tiên quyết:

Học phần A gọi là học phần tiên quyết của học phần B nếu điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã học xong học phần A và kết quả thi đạt yêu cầu

7. Học phần trước:

Học phần A gọi là học phần trước của học phần B nếu điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã học xong học phần A (kết quả thi có thể chưa đạt). Sinh viên được phép đăng ký học phần B vào học kỳ tiếp sau học kỳ đã học học phần A

8. Học phần song hành:

Học phần A gọi là học phần song hành của học phần B nếu điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã đăng ký học phần A. Sinh viên được phép đăng ký học phần B vào cùng học kỳ đã đăng ký học phần A hoặc vào các học kỳ tiếp theo.

9. Học phí tín chỉ

Học phí tín chỉ được xác định căn cứ theo chi phí của các hoạt động giảng dạy học tập, cơ sở vật chất tính cho một tín chỉ. Học phí thu theo học kỳ được xác định theo số tín chỉ mà sinh viên đã đăng ký học trong học kỳ đó. Mức học phí do Hiệu trưởng quy định cho từng bậc học và từng hệ đào tạotheo từng năm học (có quy định riêng )

Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy

Thời gian hoạt động giảng dạy của trường được tính từ 7giờ đến 21 giờ hằng ngày.

Tuỳ theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của trường, Trưởng Phòng Đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp.

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).


2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.


3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D tính từ đầu khóa học.


4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần và được đánh giá bằng các điểm chữ A, B, C, D mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.


===================================================


Chương II: TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo

1. Nhà trường tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.

a) Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Tuỳ thuộc chương trình, khoá học được quy định như sau:

- Đào tạo trình độ cao đẳng, một khóa học được thực hiện trong ba năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; 1,5 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp cùng ngành đào tạo.

- Đào tạo trình độ đại học, một khóa học được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; 1,5 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo.

b) Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 14 tuần thực học và 3 tuần thi. Ngoài hai học kỳ chính, Nhà trường còn tổ chức thêm một kỳ học hè để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù hoặc học vượt. Mỗi học kỳ hè có ít nhất 6 tuần thực học và 2 tuần thi.

2. Căn cứ vào khối lượng và nội dung kiến thức tối thiểu quy định cho các chương trình, Hiệu trưởng phân bổ số học phần cho từng năm học, từng học kỳ.

3. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bằng hai lần thời gian thiết kế cho chương trình quy định tại khoản 1 của Điều này.

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.

Điều 7. Đăng ký nhập học

1. Sinh viên trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh đại học cao đẳng khi nhập học phải nộp các giấy tờ theoquy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng chính quy hiện hành. Hồ sơ sinh viên nhập học doTrung tâm tuyển sinh và Giới thiệu việc làm quản lý.

2. Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, Trung tâm tuyển sinh và Giới thiệu việc làm trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận người đến học là sinh viên chính thức của Trường và cấp cho họ:

a) Thẻ sinh viên;

b) Sổ đăng ký học tập;

c) Phiếu nhận cố vấn học tập.

3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại Quy chế hiện hành về tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy.

4. Sinh viên nhập học được Nhà trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.


Điều 8. Sắp xếp sinh viên vào học các chương trình hoặc ngành đào tạo

Nhà trường xác định điểm trúng tuyển dựa vào kết quả trong kỳ thi tuyển sinh đại học cao đẳng của thí sinh. Thí sinh trúng tuyển nhập học sẽ được Nhà trường sắp xếp vào học các chương trình (hoặc ngành đào tạo) đã đăng ký. Trường hợp đổi ngành học hoặc đăng ký học ngành thứ hai thí sinh phải đạt điểm chuẩn đầu vào của ngành xin học được xác định trong bảng điểm trúng tuyển đã công bố.

Điều 9. Tổ chức lớp học

a). Lớp học phần

Lớp học phần là lớp học được tổ chức theo từng học phần dựa vào đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở từng học kỳ, trong cùng thời điểm. Mỗi lớp học phần được gắn với một mã số riêng. Số lượng sinh viên của một lớp học phần được giới hạn bởi sức chứa của phòng học hoặc phòng thí nghiệm. Nếu số lượng sinh viên đăng ký thấp hơn số lượng tối thiểu quy định thì lớp học sẽ không được tổ chức và sinh viên phải đăng ký chuyển sang học những học phần khác có lớp, nếu chưa đảm bảo đủ quy định về khối lượng học tập tối thiểu cho mỗi học kỳ. Số lượng tối thiểu để xem xét mở lớp học phần trong học kỳ đối với lớp học lý thuyết là:

Ít nhất 70 sinh viên cho những học phần cơ bản, cơ sở của các nhóm ngành lớn và 50 sinh viên cho các học phần khác

Trong trường hợp các học phần chuyên ngành, nếu có đề nghị của Khoa quản lý ngành, Trường sẽ xem xét để mở các lớp có sỹ số dưới 50 sinh viên

Những sinh viên đã tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định được làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp trong mỗi học kỳ chính. Các học phần thí nghiệm, thực tập được mở lớp theo khả năng sắp xếp đảm nhận của Khoa chủ quản.

b) Lớp sinh viên và giảng viên chủ nhiệm.


Lớp sinh viên là một lớp có tên riêng gắn với Khoa, khóa học, ngành đào tạo và do một giảng viên chủ nhiệm phụ trách, giảng viên này đồng thời đảm nhiệm vai trò cố vấn học tập cho sinh viên trong lớp về các vấn đề học vụ, giúp đỡ sinh viên lập kế hoạch học tập trong từng học kỳ và cho toàn khóa học.


Tổ chức, hoạt động của lớp sinh viên, vai trò, trách nhiệm của giảng viên chủ nhiệm được quy định trong Quy chế công tác sinh viên của Trường


Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập

1. Đầu mỗi năm học, Phòng Đào tạo thông báo lịch trình học dự kiến cho từng chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ dạy, đề cương chi tiết, điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần.

2. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, sinh viên phải theo dõi các thông báo về kế hoạch đăng ký các học phần của Phòng Đào tạo và của các Khoa để chủ động đăng ký trên mạng hoặc trên website của Trường.

3. Khối lượng học tập mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ được quy định như sau:

a) Tối thiểu 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

b) 10-14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu.

c) Trường hợp học vượt đối với sinh viên có học lực khá trở lên, tối đa 23 tín chỉ đối với hệ đại học, cao đẳng cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa. Riêng đối với chuyên ngành tiếng Anh từ 24 tín chỉ đến 32 tín chỉ đối với hệ đại học, từ 24 đến 30 tín chỉ đối với hệ cao đẳng.

d) Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ hè.

5. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể.

6. Đối với những khóa mới nhập học Phòng Đào tạo sẽ đăng ký cho sinh viên những học phần của học kỳ I, từ học kỳ II đến cuối khóa học sinh viên tự đăng ký học phần học tập.

7. Phòng Đào tạo của Trường chỉ nhận đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở mỗi học kỳ khi đã có chữ ký chấp thuận của cố vấn học tập trong sổ đăng ký học tập. Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên theo từng học kỳ phải được ghi vào phiếu đăng ký học do Phòng Đào tạo của Trường lưu giữ.


Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký

1. Việc rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký chỉ được chấp nhận sau 1 tuần kể từ đầu học kỳ chính, nhưng không muộn quá 4 tuần; sau 1 tuần kể từ đầu học kỳ hè, nhưng không muộn quá 2 tuần. Ngoài thời hạn trên học phần vẫn được giữ nguyên trong phiếu đăng ký học và nếu sinh viên không đi học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.

2. Điều kiện rút bớt các học phần đã đăng ký:

a) Sinh viên phải tự viết đơn gửi Phòng Đào tạo của trường để xét;

b) Được cố vấn học tập chấp thuận.

c) Không vi phạm khoản 2, Điều 10 của Quy chế này.

Sinh viên chỉ được phép bỏ lớp đối với học phần xin rút bớt, sau khi giảng viên phụ trách học phần và Trưởng đơn vị đào tạo nhận giấy báo chấp thuận của Phòng Đào tạo.

Điều 12. Đăng ký học lại

1. Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D.

2. Sinh viên có học phần tự chọn bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó hoặc học đổi sang học phần tự chọn tương đương khác.

3. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này, sinh viên được quyền đăng ký học lại hoặc học đổi sang học phần khác (trường hợp các học phần tự chọn) đối với các học phần bị điểm D, C để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy.

4. Sinh viên phải theo dõi trên bảng tin và website của trường để đăng ký học lại, thi lại.

Điều 13. Nghỉ ốm
Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép gửi trưởng khoa trong vòng một tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của cơ quan y tế.


Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực

1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo như sau:

a) Sinh viên năm thứ nhất:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy dưới 35 tín chỉ;

b) Sinh viên năm thứ hai:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 36 tín chỉ đến dưới 70 tín chỉ;

c) Sinh viên năm thứ ba:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 71 tín chỉ đến dưới 105 tín chỉ;

d) Sinh viên năm thứ tư:
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 106 tín chỉ trở lên

2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:

a) Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên.

b) Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00, nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học.

3. Kết quả học tập trong học kỳ hè được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ chính ngay trước đó để xếp hạng sinh viên về học lực.

Điều 15. Nghỉ học tạm thời

1. Sinh viên được quyền viết đơn gửi Hiệu trưởng xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:

a) Được điều động vào các lực lượng vũ trang;

b) Bị ốm hoặc tai nạn phải điều trị thời gian dài, nhưng phải có giấy xác nhận của cơ quan y tế;

c) Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở Trường, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học quy định tại Điều 16 của Quy chế này và phải đạt điểm trung bình chung tích lũy không dưới 2,00. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này.

2. Sinh viên nghỉ học tạm thời, khi muốn trở lại học tiếp tại Trường, phải viết đơn gửi Hiệu trưởng ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới .

Điều 16. Bị buộc thôi học

1. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a) Có điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa học; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo hoặc đạt dưới 1,10 đối với 2 học kỳ liên tiếp;

b) Có điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 1,20 đối với sinh viên năm thứ nhất; dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ hai; dưới 1,60 đối với sinh viên năm thứ ba hoặc dưới 1,80 đối với sinh viên các năm tiếp theo và cuối khoá;

c) Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại Trường quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này;

d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Quy chế này hoặc bị kỷ luật ở mức xoá tên khỏi danh sách sinh viên của Trường.

2. Chậm nhất là một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, Nhà trường gửi thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Những sinh viên thuộc diện bị buộc thôi học quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 của Điều này, được quyền xin xét chuyển qua các chương trình đào tạo thấp hơn và được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học ở các chương trình đào tạo mới này. Hiệu trưởng xem xét quyết định cho bảo lưu kết quả học tập đối với từng trường hợp cụ thể.


Điều 17. Học cùng lúc hai chương trình
1. Sinh viên học cùng lúc hai chương trình là sinh viên có nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.

2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:

a) Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo chính ở chương trình thứ nhất;

b) Sau khi đã kết thúc học kỳ thứ nhất năm học đầu tiên của chương trình thứ nhất;

c) Sinh viên không thuộc diện xếp hạng học lực yếu ở chương trình thứ nhất;

3. Sinh viên đang học thêm chương trình thứ hai, nếu rơi vào diện bị xếp hạng học lực yếu của chương trình thứ hai, phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo.

4. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng lúc hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này. Khi học chương trình thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất.

5. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.

Điều 18. Chuyển trường


1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:


a) Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;


b) Xin chuyển đến trường có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;


c) Được sự đồng ý của hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến;


d) Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy định tại khoản 2 Điều này.


2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:


a) Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng tuyển vào trường hoặc có kết quả thi thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến;


b) Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển quy định của trường xin chuyển đến;


c) Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;


d) Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.


3. Thủ tục chuyển trường:


a) Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của nhà trường;


b) Hiệu trưởng trường có sinh viên xin chuyển đến quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận; quyết định việc học tập tiếp tục của sinh viên, công nhận các học phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường sinh viên xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.


=====================================================


Chương III: KIỂM TRA VÀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN


Điều 19. Đánh giá học phần

1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (sau đây gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong qúa trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần, điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50%.


Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết của học phần.


2. Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành. Điểm trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành.


3. Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề kiểm tra giữa kỳ và cho điểm đánh giá bộ phận của điểm học phần. Ra đề thi và chấm thi kết thúc học phần được thực hiện theo điều 21 của Quy chế này.


4. Sinh viên dự thi kết thúc học phần phải đạt đủ các điều kiện sau:


- Đủ bài kiểm tra giữa kỳ;


- Số giờ nghỉ học không quá 20% tổng số giờ của học phần đó.


- Không bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên liên quan đến học tập học phần đó.


a. Đối với những học phần không làm tiểu luận điểm học phần tính như sau:


Đ.HP = 60% Đ.KTHP + 20% Đ.GHP + 20% Đ.TBKTTX

Trong đó:

Đ.HP: Điểm học phần.

Đ.KTHP: Điểm thi kết thúc học phần ( phải 4 mới tính các điểm khác)

Đ. GHP: Điểm kiểm tra giữa học phần. Với những học phần có 1 - 3 tín chỉ sẽ có 01 bài kiểm tra giữa kỳ; nếu có từ 4 – 5 tín chỉ sẽ có 02 bài kiểm tra trong học kỳ.

Đ. TBKTTX: Điểm trung bình kiểm tra thường xuyên, gồm:
- Điểm trung bình chấm kết quả các bài tập về nhà;
- Điểm đánh giá trả lời nhanh trên lớp hoặc thảo luận nhóm, hội thảo .



Sinh viên có 2 lần vào lớp muôn quá 10 phút tính bằng một buổi vắng mặt;

Sinh viên nghỉ có phép hợp lệ sẽ được tính điểm rèn luyện nhưng vẫn bị tính vào thời gian vắng mặt của môn học.

(Giấy phép được coi là hợp lệ khi nghỉ ốm đau có xác nhận của y tế, vì lý do cá nhân phải có ý kiến của gia đình hoặc xác nhân của Chính quyền địa phương, phải đưa đến giáo viên chủ nhiệm và Phòng Quản lý SV-HS trước giờ học xin được nghỉ)

- Điểm đánh giá số lượng các bài tập hoàn thành ở nhà: 90% - 100% được 10 điểm, 70% - cận 90%: 8 điểm; 50% - cận 70%: 6 điểm; dưới 50%: 0 điểm.

- Điểm đánh giá thái độ tham gia thảo luận nhóm, hội thảo: tham gia đầy đủ và có bài tham luận : + 5 điểm; tham gia đầy đủ không có bài tham luận: 0 điểm, tham gia không đầy đủ: - 5 điểm.

b. Đối với những học phần có làm tiểu luận hoặc bài tập lớn thì lấy điểm tiểu luận hoặc bài tập lớn thay cho điểm thi giữa học phần.

c. Mỗi ngành công nghệ hoặc kỹ thuật có hai môn cốt lõi cho sinh viên làm đồ án môn học. Điểm đồ án gọi là điểm làm đồ án cộng tên môn học với số tín chỉ bằng ½ tín chỉ của môn học .


Điều 20. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần

1. Cuối mỗi học kỳ, Nhà trường tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có học phần bị điểm F ở kỳ thi chính và được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính.(Những sinh viên đạt điểm B, C và D trong kỳ thi chính muốn thi lại để cải thiện điểm thì đăng ký trong học kỳ hè hoặc trong các học kỳ sau)


2. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó, ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ. Tùy theo từng trường hợp Hiệu trưởng quy định cụ thể thời gian dành cho ôn thi và thời gian thi cho các kỳ thi.


Điều 21. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần

1. Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình. Việc ra đề thi hoặc lấy từ ngân hàng đề thi được thực hiện theo quy định của Hiệu trưởng.


2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Hiệu trưởng duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần.


2. Khoa quản lý lớp học phần quản lý toàn bộ quá trình giảng dạy kiểm tra đánh giá, danh sách sinh viên trong lớp, tổ chức thi kết thúc học phần, quản lý điểm. Giảng viên phụ trách học phần chịu trách nhiệm giảng dạy, thực hiện các hình thức kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy, tham gia với khoa quản lý lớp học phần, tổ chức, ra đề, chấm thi kết thúc học phần.


3. Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm.


Việc bảo quản các bài thi, quy trình chấm thi và lưu giữ các bài thi sau khi chấm theo quy định của Hiệu trưởng. Thời gian lưu giữ các bài thi viết, tiểu luận, bài tập lớn ít nhất là hai năm, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận, bài tập lớn.


4. Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi. Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình trưởng bộ môn hoặc trưởng khoa quyết định.


Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của Trường, có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi và làm thành 2 bản. Một bản lưu tại văn phòng khoa và nộp điểm của từng học phần về Phòng Đào tạo chậm nhất một tuần sau khi thi xong học phần đó.


5. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính. Những sinh viên này khi được trưởng khoa cho phép được dự thi một lần ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có).


6. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính, nếu được Trưởng Khoa cho phép, được dự thi ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có), điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu. Trường hợp không có kỳ thi phụ hoặc thi không đạt trong kỳ thi phụ những sinh viên này sẽ phải dự thi tại các kỳ thi kết thúc học phần ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ.



Điều 22. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần

1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.

2. Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:


a) Loại đạt:


A (8,5 - 10) Giỏi


B (7,0 - 8,4) Khá


C (5,5 - 6,9) Trung bình


D (4,0 - 5,4) Trung bình yếu


b) Loại không đạt: F (dưới 4,0) Kém


c) Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các kí hiệu sau:


I : Chưa đủ dữ liệu đánh giá.


X : Chưa nhận được kết quả thi.


d) Đối với những học phần được nhà trường cho phép chuyển điểm, khi xếp mức đánh giá được sử dụng kí hiệu R viết kèm với kết quả.


3. Việc xếp loại các mức điểm A, B, C, D, F được áp dụng cho các trường hợp sau đây:


a) Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;


b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;


c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.


4. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản 3 Điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm nội quy thi, có quyết định phải nhận mức điểm F.


5. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:


a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được trưởng khoa cho phép;


b) Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách quan, được trưởng khoa chấp thuận.


Trừ các trường hợp đặc biệt do Hiệu trưởng quy định, trước khi bắt đầu học kỳ mới kế tiếp, sinh viên nhận mức điểm I phải trả xong các nội dung thi, kiểm tra bộ phận còn nợ để được chuyển điểm. Trường hợp sinh viên chưa trả nợ và chưa chuyển điểm nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ kế tiếp.


6. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà Phòng Đào tạo của Trường chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ khoa chuyển lên.


7. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:


a) Điểm học phần được đánh giá ở các mức điểm A, B, C, D trong đợt đánh giá đầu học kỳ (nếu có) đối với một số học phần được phép thi sớm để giúp sinh viên học vượt.


b) Những học phần được công nhận kết quả, khi sinh viên chuyển từ trường khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.





Điều 23. Cách tính điểm trung bình chung


1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi qua điểm số như sau:


A tương ứng với 4


B tương ứng với 3


C tương ứng với 2


D tương ứng với 1


F tương ứng với 0


2. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:



Trong đó:

A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy

ai là điểm của học phần thứ i

ni là số tín chỉ của học phần thứ i

n là tổng số học phần.

Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần thi thứ nhất (được tính khi đạt từ 17 tín chỉ trở lên). Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm thi kết thúc học phần cao nhất trong các lần thi.


Học bổng chỉ được cấp trong thời gian trong kế hoạch của khóa đào tạo; trong 6 học kỳ đối với hệ cao đẳng, 8 học kỳ đối với hệ đại học. Thời gian tạm dừng, kéo dài không được xét cấp học bổng


===================================================
Chương IV: XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

Điều 24. Thực tập cuối khóa, làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp

1. Năm học cuối khóa, các sinh viên được đăng ký làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và thi tốt nghiệp các môn Khoa học Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được quy định như sau:


a) Làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp: áp dụng cho sinh viên Đại học hoặc một số ngành cao đẳng theo quy định của Trường. Đối với sinh viên khối kinh tế đạt 7.0, khối kỹ thuật 6.5 Đồ án, khóa luận tốt nghiệp là học phần có khối lượng 7 tín chỉ cho hệ Đại học, 5 tín chỉ cho hệ Cao đẳng.


b) Thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp áp dụng cho sinh viên không được giao làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp sau khi đã tích lũy đủ số lượng học phần quy định cho chương trình, tùy theo khoa có thể lựa chọn một trong hai cách sau:


Cách 1: Nội dung thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp gồm hai phần: phần kiến thức cơ sở ngành và phần kiến thức chuyên môn được tổng hợp từ một số học phần bắt buộc thuộc chương trình với tổng khối lượng kiến thức tương đương với khối lượng kiến thức của đồ án hoặc khóa luận tốt nghiệp như quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Hiệu trưởng quy định nội dung và khối lượng kiến thức tính bằng tín chỉ của các phần kiến thức ôn tập đối với đối với từng chương trình cụ thể và công bố vào đầu năm hoặc cuối khóa học.


Cách 2: Sinh viên phải đăng ký học thêm và thi một số học phần chuyên môn mới (đại học 7 tín chỉ, cao đẳng 5 tín chỉ)


c) Thi tốt nghiệp các môn Khoa học Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh áp dụng cho tất cả sinh viên hệ đại học, cao đẳng theo quy định của bộ Giáo dục và Đào tạo.


2. Sinh viên được tạo điều kiện làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp kết hợp với thời gian thực tập chuyên môn cuối khóa


3. Sinh viên đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì không được đăng ký làm đồ án khóa luận tốt nghiệp

Điều 25. Chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp

1. Hiệu trưởng quyết định danh sách giảng viên chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Việc chấm mỗi đồ án, khóa luận tốt nghiệp phải do 2 giảng viên đảm nhiệm.

2. Điểm của đồ án, khoá luận tốt nghiệp được chấm theo thang điểm chữ theo quy định tại các mục a và b, khoản 2, Điều 22 của Quy chế này. Kết quả chấm đồ án, khóa luận tốt nghiệp được công bố chậm nhất là 3 tuần, kể từ ngày nộp đồ án, khóa luận tốt nghiệp.

Điểm đồ án, khoá luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học.

3. Sinh viên có đồ án, khoá luận tốt nghiệp bị điểm F, phải đăng ký làm lại đồ án, khóa luận tốt nghiệp; hoặc phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn để thay thế, sao cho tổng số tín chỉ của các học phần chuyên môn học thêm tương đương với số tín chỉ của đồ án, khóa luận tốt nghiệp.


Điều 26. Thực tập cuối khoá
Thời gian thực tập cuối khóa là 2 tháng (5 tín chỉ) dành cho cả bậc đại học và cao đẳng

Điều 27. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp

1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được Trường xét và công nhận tốt nghiệp:

a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;

b) Tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình đào tạo: với khối lượng 140-150 tín chỉ đối với khoá đại học 4 năm; 100-110 tín chỉ đối với khoá cao đẳng 3 năm; 50-60 tín chỉ đối với khoá đại học liên thông;

c) Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;

đ) Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất. Thi đạt môn lý luận chính trị (là môn thi điều kiện kết thúc khóa học), ở cả hai trình độ đại học và cao đẳng.

2. Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Hội đồng xét tốt nghiệp trường do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, Trưởng Phòng Đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các Trưởng Khoa chuyên môn, Trưởng Phòng Quản lý Sinh viên – Học sinh và Thanh tra Giáo dục.

3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.


Điều 28. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo

1. Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính (đơn ngành hoặc song ngành). Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học, như sau:


a) Loại xuất sắc: Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00;


b) Loại giỏi: Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59;


c) Loại khá: Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19;


d) Loại trung bình: Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49.


2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:


a) Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình;


b) Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.


3. Kết quả học tập của sinh viên phải được ghi vào bảng điểm theo từng học phần. Trong bảng điểm còn phải ghi chuyên ngành (hướng chuyên sâu) hoặc ngành phụ (nếu có).


4. Nếu kết quả học tập của sinh viên thỏa mãn những quy định tại khoản 1 Điều 27 của Quy chế này đối với một số chương trình đào tạo tương ứng với các ngành đào tạo khác nhau, thì sinh viên được cấp các bằng tốt nghiệp khác nhau tương ứng với các ngành đào tạo đó.


5. Sinh viên còn nợ chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về Trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.


6. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình của Trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng, được quyền làm đơn xin chuyển qua các chương trình khác theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Quy chế này.


7. Mỗi năm Nhà trường tổ chức 2 đợt xét tốt nghiệp và phát bằng cho những sinh viên đã tích lũy đủ tín chỉ .


================================================

Chương V: XỬ LÝ VI PHẠM


Điều 29. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra

1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, bài tập lớn, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị đồ án, khoá luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật với từng học phần đã vi phạm.


2. Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.


3. Trừ trường hợp như quy định tại khoản 2 của Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy.



cntt-tdd tổng hợp
(Chinhphu.vn) - Bên cạnh việc phát triển số lượng để khỏa lấp sự thiếu hụt nhân lực trong ngành công nghệ thông tin (CNTT), thì việc đào tạo những kỹ sư đủ chất lượng là rất quan trọng, giúp CNTT của Việt Nam “bước cùng” với thế giới.

Chưa đáp ứng được thực tiễn

Sinh viên trường đại học Thành Đô trong một giờ học thực hành


Theo thống kê của Hội tin học TPHCM (HCA), hiện cả nước có 400 cơ sở đào tạo có liên quan đến CNTT. Từ nay tới năm 2015, mỗi năm ngành CNTT cần 20.000-25.000 người, trong khi quy mô đào tạo hiện mới chỉ đạt trên 10.000 người/năm. Nhưng đáng lo hơn, nếu tính số cử nhân đạt yêu cầu tuyển dụng thì còn thấp hơn nữa so với nhu cầu.

Qua 80 doanh nghiệp CNTT-truyền thông sử dụng 6.330 nhân lực mà HCA khảo sát, thì 28% số này đạt yêu cầu đặt ra của doanh nghiệp, 72% phải đào tạo lại mới có thể theo kịp các dự án đang triển khai. Nguyên nhân là do 72% sinh viên không có kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm, 100% không biết lĩnh vực hành nghề, 70% sinh viên không thành thạo ngoại ngữ.

Ông Hoàng Nam Tiến, Chủ tịch Công ty phần mềm FPT (FPT Software) cho biết: “Có thời gian, chúng tôi phải mất ít nhất là 3 tháng để đào tạo lại các kỹ năng cần thiết cho một sinh viên mới ra trường. Đây là điều đáng tiếc, vì lẽ ra, sinh viên phải được đào tạo những kỹ năng đó ở trong trường”.

Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CNTT đang trở thành lực cản đối với nỗ lực của Việt Nam đưa CNTT trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn. Giải bài toán chất lượng nguồn nhân lực CNTT đang đặt ra trách nhiệm đối với ngành quản lý, mà trực tiếp là các cơ sở giáo dục, đào tạo.

Chất lượng nhân lực CNTT chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp là hệ quả của nhiều yếu tố, như cách tổ chức của ngành giáo dục không phù hợp, quy trình đào tạo chưa được chuẩn hóa, giáo trình cập nhật chậm so với xu hướng trên thế giới, chưa đầu tư đào tạo kỹ năng mềm… Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất là chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp

Bài toán cần phải giải cho nhân lực CNTT Việt Nam là thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp. Để giải bài toán trên, các cơ sở đào tạo cần chủ động tạo ra môi trường doanh nghiệp cho sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường bằng cách thành lập công ty giúp sinh viên lập nghiệp, hay liên kết chặt chẽ với những tổ chức tuyển dụng, kinh doanh. Nhờ đó, sinh viên không chỉ có điều kiện thực hành những kiến thức đã học, mà còn được cải thiện nhiều về kỹ năng mềm như cách làm việc nhóm, thuyết trình, quản lý thời gian... Vài năm trở lại đây đã có một số cơ sở đào tạo đi theo hướng trên.

Đại học FPT đang triển khai mô hình tương thích “tuyển sinh-tuyển dụng”. Theo đó, sinh viên sẽ có từ 4 - 8 tháng thực tập theo chương trình On-the-job-training tại Tập đoàn FPT và các đối tác để lấy kinh nghiệm thực tế. Không ít sinh viên đã ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp ngay trong quá trình này. Đặc biệt, tháng 5/2013, Đại học FPT đã chính thức thành lập Công ty Sáng tạo công nghệ FPT toàn cầu (FTICO), hoạt động theo mô hình phi lợi nhuận để đầu tư pháp triển ý tưởng kinh doanh của sinh viên, gắn kết sinh viên với thực tiễn mà doanh nghiệp CNTT đòi hỏi.

“Lợi thế của sinh viên FPT khi so sánh trên mặt bằng chung có thể thấy rõ nhất ở khả năng tiếng Anh tốt, năng động và bắt nhịp với công việc nhanh. Về kế hoạch cho đến 2015, chúng tôi mong muốn sẽ tuyển được 1.500 nhân sự để đáp ứng nhu cầu phát triển của Tập đoàn. Mới đây chúng tôi đã tổ chức 2 đợt tuyển dụng tại Đại học FPT”, bà Hồ Thủy Linh, phụ trách tuyển dụng của Viettel R&D cho biết.

Theo Hiệu trưởng Đại học FPT Lê Trường Tùng, hiện có hơn 3% sinh viên FPT đã thành lập và điều hành công ty của riêng mình ở nhiều quy mô khác nhau. 98,5% sinh viên có việc làm trong vòng 3 tháng sau khi tốt nghiệp. Nhiều sinh viên đã được các doanh nghiệp lớn nhận vào làm việc chính thức với thu nhập khởi điểm 1.000 USD/ tháng khi chưa nhận bằng tốt nghiệp.

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cũng đã chủ trương xây dựng hệ thống doanh nghiệp trong trường nhằm tăng cường gắn kết giữa trường học và môi trường KT-XH, giữa đào tạo với sản xuất kinh doanh. Hiện Đại học Bách khoa có 2 công ty trực thuộc là Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Công nghệ Bách khoa Hà Nội và Công ty TNHH Tư vấn và Chuyển giao Công nghệ Bách khoa. Nhiệm vụ chủ yếu của 2 công ty này là đầu tư phát triển công nghệ; nghiên cứu sáng tạo và thử nghiệm công nghệ mới; sản xuất các sản phẩm công nghệ cao…

Như vậy có thể thấy xu hướng giáo dục CNTT trong tương lai là đưa doanh nghiệp trở thành một trong những chủ thể tham gia đào tạo. Doanh nghiệp thay vì đứng ngoài, thụ động thì đã bắt đầu chủ động, tích cực tham gia vào hệ thống này với vai trò vừa là nhà đầu tư vừa là khách hàng cho chính “sản phẩm” của mình.



Nguồn Chinhphu.vn

Nhân lực CNTT: Cần chất lượng hơn số lượng

(Chinhphu.vn) - Bên cạnh việc phát triển số lượng để khỏa lấp sự thiếu hụt nhân lực trong ngành công nghệ thông tin (CNTT), thì việc đào tạo những kỹ sư đủ chất lượng là rất quan trọng, giúp CNTT của Việt Nam “bước cùng” với thế giới.

Chưa đáp ứng được thực tiễn

Sinh viên trường đại học Thành Đô trong một giờ học thực hành


Theo thống kê của Hội tin học TPHCM (HCA), hiện cả nước có 400 cơ sở đào tạo có liên quan đến CNTT. Từ nay tới năm 2015, mỗi năm ngành CNTT cần 20.000-25.000 người, trong khi quy mô đào tạo hiện mới chỉ đạt trên 10.000 người/năm. Nhưng đáng lo hơn, nếu tính số cử nhân đạt yêu cầu tuyển dụng thì còn thấp hơn nữa so với nhu cầu.

Qua 80 doanh nghiệp CNTT-truyền thông sử dụng 6.330 nhân lực mà HCA khảo sát, thì 28% số này đạt yêu cầu đặt ra của doanh nghiệp, 72% phải đào tạo lại mới có thể theo kịp các dự án đang triển khai. Nguyên nhân là do 72% sinh viên không có kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm, 100% không biết lĩnh vực hành nghề, 70% sinh viên không thành thạo ngoại ngữ.

Ông Hoàng Nam Tiến, Chủ tịch Công ty phần mềm FPT (FPT Software) cho biết: “Có thời gian, chúng tôi phải mất ít nhất là 3 tháng để đào tạo lại các kỹ năng cần thiết cho một sinh viên mới ra trường. Đây là điều đáng tiếc, vì lẽ ra, sinh viên phải được đào tạo những kỹ năng đó ở trong trường”.

Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CNTT đang trở thành lực cản đối với nỗ lực của Việt Nam đưa CNTT trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn. Giải bài toán chất lượng nguồn nhân lực CNTT đang đặt ra trách nhiệm đối với ngành quản lý, mà trực tiếp là các cơ sở giáo dục, đào tạo.

Chất lượng nhân lực CNTT chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp là hệ quả của nhiều yếu tố, như cách tổ chức của ngành giáo dục không phù hợp, quy trình đào tạo chưa được chuẩn hóa, giáo trình cập nhật chậm so với xu hướng trên thế giới, chưa đầu tư đào tạo kỹ năng mềm… Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất là chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp

Bài toán cần phải giải cho nhân lực CNTT Việt Nam là thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp. Để giải bài toán trên, các cơ sở đào tạo cần chủ động tạo ra môi trường doanh nghiệp cho sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường bằng cách thành lập công ty giúp sinh viên lập nghiệp, hay liên kết chặt chẽ với những tổ chức tuyển dụng, kinh doanh. Nhờ đó, sinh viên không chỉ có điều kiện thực hành những kiến thức đã học, mà còn được cải thiện nhiều về kỹ năng mềm như cách làm việc nhóm, thuyết trình, quản lý thời gian... Vài năm trở lại đây đã có một số cơ sở đào tạo đi theo hướng trên.

Đại học FPT đang triển khai mô hình tương thích “tuyển sinh-tuyển dụng”. Theo đó, sinh viên sẽ có từ 4 - 8 tháng thực tập theo chương trình On-the-job-training tại Tập đoàn FPT và các đối tác để lấy kinh nghiệm thực tế. Không ít sinh viên đã ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp ngay trong quá trình này. Đặc biệt, tháng 5/2013, Đại học FPT đã chính thức thành lập Công ty Sáng tạo công nghệ FPT toàn cầu (FTICO), hoạt động theo mô hình phi lợi nhuận để đầu tư pháp triển ý tưởng kinh doanh của sinh viên, gắn kết sinh viên với thực tiễn mà doanh nghiệp CNTT đòi hỏi.

“Lợi thế của sinh viên FPT khi so sánh trên mặt bằng chung có thể thấy rõ nhất ở khả năng tiếng Anh tốt, năng động và bắt nhịp với công việc nhanh. Về kế hoạch cho đến 2015, chúng tôi mong muốn sẽ tuyển được 1.500 nhân sự để đáp ứng nhu cầu phát triển của Tập đoàn. Mới đây chúng tôi đã tổ chức 2 đợt tuyển dụng tại Đại học FPT”, bà Hồ Thủy Linh, phụ trách tuyển dụng của Viettel R&D cho biết.

Theo Hiệu trưởng Đại học FPT Lê Trường Tùng, hiện có hơn 3% sinh viên FPT đã thành lập và điều hành công ty của riêng mình ở nhiều quy mô khác nhau. 98,5% sinh viên có việc làm trong vòng 3 tháng sau khi tốt nghiệp. Nhiều sinh viên đã được các doanh nghiệp lớn nhận vào làm việc chính thức với thu nhập khởi điểm 1.000 USD/ tháng khi chưa nhận bằng tốt nghiệp.

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cũng đã chủ trương xây dựng hệ thống doanh nghiệp trong trường nhằm tăng cường gắn kết giữa trường học và môi trường KT-XH, giữa đào tạo với sản xuất kinh doanh. Hiện Đại học Bách khoa có 2 công ty trực thuộc là Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Công nghệ Bách khoa Hà Nội và Công ty TNHH Tư vấn và Chuyển giao Công nghệ Bách khoa. Nhiệm vụ chủ yếu của 2 công ty này là đầu tư phát triển công nghệ; nghiên cứu sáng tạo và thử nghiệm công nghệ mới; sản xuất các sản phẩm công nghệ cao…

Như vậy có thể thấy xu hướng giáo dục CNTT trong tương lai là đưa doanh nghiệp trở thành một trong những chủ thể tham gia đào tạo. Doanh nghiệp thay vì đứng ngoài, thụ động thì đã bắt đầu chủ động, tích cực tham gia vào hệ thống này với vai trò vừa là nhà đầu tư vừa là khách hàng cho chính “sản phẩm” của mình.



Nguồn Chinhphu.vn








Là một lập trình viên xuất sắc bao gồm nhiều yếu tố hội tụ chứ không phải chỉ giỏi viết code. Justin James đã liệt kê những điểm nổi bật cần có của các lập trình viên để họ có thể bước vào hàng ngũ cấp cao trong nghề nghiệp của mình.

Để trở thành một lập trình viên xuất sắc, bạn cần phải có đầy đủ đặc điểm giúp cho kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức của bạn kết hợp nhuần nhuyễn để làm việc. Có một số lập trình viên có trình độ cao để phát triển trong công việc nhưng họ sẽ không bao giờ thành công bởi thiếu những yếu tố cần thiết khác. Dưới đây là 7 kỹ năng cần có để trở thành một lập trình viên xuất sắc.
Là một lập trình viên xuất sắc bao gồm nhiều nhiều yếu tố hội tụ chứ không phải chỉ giỏi viết code.


Học kỹ năng “kỹ thuật mới” và “phi kỹ thuật” theo cách riêng của mình

Lập trình viên kém chỉ học hỏi những điều khi nó hoàn toàn cần thiết. Lập trình viên giỏi học các kỹ năng “kỹ thuật mới” xuất hiện. Còn lập trình viên xuất sắc không chỉ học các kỹ năng “kỹ thuật mới” cho riêng mình mà còn học kỹ năng “phi kỹ thuật”. Họ sẵn sàng đón nhận nguồn kiến thức mà những người khác có thể không bao giờ quan tâm.

Đặt điều đó trong hoàn cảnh cụ thể, các lập trình viên kém chỉ học XAML khi họ bắt đầu một dự án sử dụng WPF. Lập trình viên giỏi đã học nó một năm trước bởi vì họ cảm thấy thú vị. Lập trình viên xuất sắc lại chăm chỉ đọc hướng dẫn thiết kế các ứng dụng WPF, lý thuyết khả năng sử dụng, hoặc học một số khóa học như nghiên cứu chẳng hạn, để làm cho UIS trở nên đặc biệt hơn.
Biết nhìn vào thực tế, không giáo điều

Tuân thủ cứng nhắc các "quy tắc bất thành văn của lập trình" là một điều rất khó thực hiện với lập trình viên. Một lập trình viên giỏi sẽ luôn biết nhìn vào thực tế, căn cứ tình hình cụ thể chứ không chỉ giáo điều theo sách vở. Điều ấy có nghĩa là phải biết sáng tạo và học hỏi. Sẽ có lúc bạn viết code mà không học hỏi cách thực hiện của người đi trước. Nhiều khi bạn bế tắc khi không biết phải viết code như thế nào. Nhưng hãy nhớ rằng sẽ không bao giờ có bad-code nếu có nhiều hơn một cách để viết nó, trừ khi bạn đã cạn kiệt khả năng sáng tạo.


Bạn không thể bước lên đỉnh cao trong nghề này mà không yêu công việc.

Biết cách nghiên cứu để tìm ra giải pháp

Nghiên cứu để tìm câu trả lời có nghĩa là bạn sẽ làm nhiều hơn việc chỉ gõ một số từ khóa vào một công cụ tìm kiếm hoặc đăng một câu hỏi tại Stack Overflow hoặc các diễn đàn MSDN. Tôi từng nhập vấn đề vào công cụ tìm kiếm mà không tìm ra kết quả. Mỗi câu hỏi tôi đăng trên Stack Overflow hoặc các diễn đàn MSDN cũng không bao giờ có được một câu trả lời thỏa đáng. Nhưng tôi vẫn giải quyết được vấn đề và nghĩ cách chuyển vấn đề sang một hướng đi khác. Tôi không phải là nhà ảo thuật, tôi chỉ biết làm thế nào để tìm câu trả lời hoặc phát hiện ra nguyên nhân gốc rễ.

Có nhiều vấn đề là tình huống, và nếu bạn phụ thuộc vào công cụ tìm kiếm hoặc các diễn đàn, bạn có thể lãng phí rất nhiều thời gian để đi xuống một cái hang thỏ (ý nói đi vòng vèo, lãng phí thời gian) và có thể không bao giờ nhận được một giải pháp như ý. Bạn hãy nghiên cứu kỹ vấn đề để phân tích nguyên nhân gốc, tìm hiểu đầy đủ về hệ thống cơ bản để tìm manh mối và giải pháp khác. Và hơn hết, bạn hãy tìm hiểu thật kỹ để có cái nhìn xa hơn về một vấn đề trước khi đi sâu vào nó.

Có niềm đam mê

Bạn không thể bước lên đỉnh cao trong nghề này mà không yêu công việc. Có một số lập trình giỏi nói rằng: "Với tôi, nó đơn giản chỉ là một công việc". Nhưng nếu đó là ý nghĩ của bạn, bạn sẽ không thể sẵn sàng làm bất cứ điều gì để thành công. Ý kiến này của tôi khiến rất nhiều người bất mãn, bởi vì họ cảm thấy đó là một sự xúc phạm cá nhân. "Tôi là một lập trình giỏi, nhưng tôi còn có những ưu tiên khác cho cuộc sống của tôi." Tôi hoàn toàn hiểu được, tôi cũng có những ưu tiên khác nữa. Nhiều khi tôi ghét phải nói ra điều đó, nhưng khi đam mê công việc, tôi sẵn sàng (mặc dù không mong muốn) từ bỏ những ưu tiên khác để hoàn thành thật tốt công việc của mình. Đó không phải là một sự xúc phạm. Nếu bạn không sẵn sàng rút khỏi tất cả các điểm dừng khác, bạn không thể đạt được thành công, đấy là sự thật.

Bạn phải có niềm đam mê lập trình nhiều hơn nữa - bạn cũng phải vui mừng và tự hào về công việc của bạn, công nghệ bạn đang sử dụng, ông chủ của bạn, dự án của bạn, và tất cả những cái khác. Tôi đã thấy một số lập trình viên giỏi và thậm chí các lập trình viên xuất sắc chỉ làm việc ở mức độ bình thường bởi vì một số thứ không thích hợp với họ. Chẳng hạn như họ ghét dự án hoặc là phải sử dụng một công nghệ mà họ không thích. Tôi đã có một dự án phát triển, đã làm việc với dự án đó. Nhưng tôi không thích nó ngay từ lúc đầu. Nếu bạn thấy mình trong tình huống đó, bạn cần phải giải quyết ngay lập tức bằng cách khám phá điều gì đó về công việc, dự án được nhận, hoặc ra khỏi đó. Dự án đó sẽ không có giá trị nếu bạn không đam mê nó.
Đo hai lần, cắt một lần... nhưng đừng đo quá ba lần.


Để cái tôi của mình lại phía sau

Nhiều lập trình viên có cái tôi rất lớn. Bạn thông minh hơn, hiểu biết nhiều hơn, hoặc có kinh nghiệm hơn người khác không có nghĩa là bạn giỏi hơn người đó. Bạn cần phải đối xử với mọi người một cách tôn trọng, biết lắng nghe và thực tâm xem xét những ý tưởng của người khác. Bạn hãy yêu cầu giúp đỡ khi cần thiết và không coi thường bất cứ ai khác. Bạn cũng nên quan tâm nhiều hơn về việc giúp đỡ các đội khác thành công nếu được họ tín dụng cho công việc đó.

Có tinh thần kinh doanh

Các lập trình viên giỏi nhất không phải chỉ biết đến kỹ thuật. Họ có cảm giác thực sự của các doanh nhân và cảm thấy mình thực sự làm chủ trong các sản phẩm. Đối với họ, sự thành công của sản phẩm không chỉ phục vụ việc tăng lương. Bởi vì họ có tâm huyết trong các dự án, làm việc vì lợi ích của dự án và muốn tiến xa hơn nữa trong công việc.

Đo hai lần, cắt một lần... nhưng đừng đo quá ba lần

Một trong những sai lầm tồi tệ nhất một lập trình viên có thể làm là lao vào viết mã mà không có bất kỳ ý tưởng gì về nó. Khi lập trình viên xuất sắc bắt tay vào viết mã, đó là vì các thông số kỹ thuật rất giống với một mô hình họ thực hiện trước đây. Và khi họ đang phải đối mặt với một vấn đề mới, họ nghĩ ngay đến kế hoạch và nghiên cứu sâu hơn.

Điều quan trọng nhất của lập trình viên xuất sắc là không để cho mình bị hút vào cái bẫy "tê liệt phân tích". Bạn phải biết thận trọng hơn về một số điều (ví dụ bất cứ thứ gì liên quan đến tiền hoặc dữ liệu cá nhân). Bạn cũng cần tính toán cẩn thận trước khi làm (Đo hai lần, cắt một lần...) nhưng đừng để mất quá nhiều thời gian cho việc đó (Đừng đo quá ba lần).

Điều quan trọng nữa là sau khi bắt đầu viết mã, bạn phát hiện một có một vài điểm sai sót nào đó và thấy cần phải điều chỉnh kế hoạch thì hãy tạm dừng kế hoạch đó lại. Các lập trình viên giỏi nhất mà tôi biết sẵn sàng hy sinh một kế hoạch nếu nó không còn phù hợp hoặc phát hiện nó có những thiếu sót không thể khắc phục.

Cuối cùng, chúc bạn sớm trở thành một lập trình viên tuyệt vời nhất!

Nguồn: Chungta.vn

7 bí quyết trở thành lập trình viên xuất sắc









Là một lập trình viên xuất sắc bao gồm nhiều yếu tố hội tụ chứ không phải chỉ giỏi viết code. Justin James đã liệt kê những điểm nổi bật cần có của các lập trình viên để họ có thể bước vào hàng ngũ cấp cao trong nghề nghiệp của mình.

Để trở thành một lập trình viên xuất sắc, bạn cần phải có đầy đủ đặc điểm giúp cho kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức của bạn kết hợp nhuần nhuyễn để làm việc. Có một số lập trình viên có trình độ cao để phát triển trong công việc nhưng họ sẽ không bao giờ thành công bởi thiếu những yếu tố cần thiết khác. Dưới đây là 7 kỹ năng cần có để trở thành một lập trình viên xuất sắc.
Là một lập trình viên xuất sắc bao gồm nhiều nhiều yếu tố hội tụ chứ không phải chỉ giỏi viết code.


Học kỹ năng “kỹ thuật mới” và “phi kỹ thuật” theo cách riêng của mình

Lập trình viên kém chỉ học hỏi những điều khi nó hoàn toàn cần thiết. Lập trình viên giỏi học các kỹ năng “kỹ thuật mới” xuất hiện. Còn lập trình viên xuất sắc không chỉ học các kỹ năng “kỹ thuật mới” cho riêng mình mà còn học kỹ năng “phi kỹ thuật”. Họ sẵn sàng đón nhận nguồn kiến thức mà những người khác có thể không bao giờ quan tâm.

Đặt điều đó trong hoàn cảnh cụ thể, các lập trình viên kém chỉ học XAML khi họ bắt đầu một dự án sử dụng WPF. Lập trình viên giỏi đã học nó một năm trước bởi vì họ cảm thấy thú vị. Lập trình viên xuất sắc lại chăm chỉ đọc hướng dẫn thiết kế các ứng dụng WPF, lý thuyết khả năng sử dụng, hoặc học một số khóa học như nghiên cứu chẳng hạn, để làm cho UIS trở nên đặc biệt hơn.
Biết nhìn vào thực tế, không giáo điều

Tuân thủ cứng nhắc các "quy tắc bất thành văn của lập trình" là một điều rất khó thực hiện với lập trình viên. Một lập trình viên giỏi sẽ luôn biết nhìn vào thực tế, căn cứ tình hình cụ thể chứ không chỉ giáo điều theo sách vở. Điều ấy có nghĩa là phải biết sáng tạo và học hỏi. Sẽ có lúc bạn viết code mà không học hỏi cách thực hiện của người đi trước. Nhiều khi bạn bế tắc khi không biết phải viết code như thế nào. Nhưng hãy nhớ rằng sẽ không bao giờ có bad-code nếu có nhiều hơn một cách để viết nó, trừ khi bạn đã cạn kiệt khả năng sáng tạo.


Bạn không thể bước lên đỉnh cao trong nghề này mà không yêu công việc.

Biết cách nghiên cứu để tìm ra giải pháp

Nghiên cứu để tìm câu trả lời có nghĩa là bạn sẽ làm nhiều hơn việc chỉ gõ một số từ khóa vào một công cụ tìm kiếm hoặc đăng một câu hỏi tại Stack Overflow hoặc các diễn đàn MSDN. Tôi từng nhập vấn đề vào công cụ tìm kiếm mà không tìm ra kết quả. Mỗi câu hỏi tôi đăng trên Stack Overflow hoặc các diễn đàn MSDN cũng không bao giờ có được một câu trả lời thỏa đáng. Nhưng tôi vẫn giải quyết được vấn đề và nghĩ cách chuyển vấn đề sang một hướng đi khác. Tôi không phải là nhà ảo thuật, tôi chỉ biết làm thế nào để tìm câu trả lời hoặc phát hiện ra nguyên nhân gốc rễ.

Có nhiều vấn đề là tình huống, và nếu bạn phụ thuộc vào công cụ tìm kiếm hoặc các diễn đàn, bạn có thể lãng phí rất nhiều thời gian để đi xuống một cái hang thỏ (ý nói đi vòng vèo, lãng phí thời gian) và có thể không bao giờ nhận được một giải pháp như ý. Bạn hãy nghiên cứu kỹ vấn đề để phân tích nguyên nhân gốc, tìm hiểu đầy đủ về hệ thống cơ bản để tìm manh mối và giải pháp khác. Và hơn hết, bạn hãy tìm hiểu thật kỹ để có cái nhìn xa hơn về một vấn đề trước khi đi sâu vào nó.

Có niềm đam mê

Bạn không thể bước lên đỉnh cao trong nghề này mà không yêu công việc. Có một số lập trình giỏi nói rằng: "Với tôi, nó đơn giản chỉ là một công việc". Nhưng nếu đó là ý nghĩ của bạn, bạn sẽ không thể sẵn sàng làm bất cứ điều gì để thành công. Ý kiến này của tôi khiến rất nhiều người bất mãn, bởi vì họ cảm thấy đó là một sự xúc phạm cá nhân. "Tôi là một lập trình giỏi, nhưng tôi còn có những ưu tiên khác cho cuộc sống của tôi." Tôi hoàn toàn hiểu được, tôi cũng có những ưu tiên khác nữa. Nhiều khi tôi ghét phải nói ra điều đó, nhưng khi đam mê công việc, tôi sẵn sàng (mặc dù không mong muốn) từ bỏ những ưu tiên khác để hoàn thành thật tốt công việc của mình. Đó không phải là một sự xúc phạm. Nếu bạn không sẵn sàng rút khỏi tất cả các điểm dừng khác, bạn không thể đạt được thành công, đấy là sự thật.

Bạn phải có niềm đam mê lập trình nhiều hơn nữa - bạn cũng phải vui mừng và tự hào về công việc của bạn, công nghệ bạn đang sử dụng, ông chủ của bạn, dự án của bạn, và tất cả những cái khác. Tôi đã thấy một số lập trình viên giỏi và thậm chí các lập trình viên xuất sắc chỉ làm việc ở mức độ bình thường bởi vì một số thứ không thích hợp với họ. Chẳng hạn như họ ghét dự án hoặc là phải sử dụng một công nghệ mà họ không thích. Tôi đã có một dự án phát triển, đã làm việc với dự án đó. Nhưng tôi không thích nó ngay từ lúc đầu. Nếu bạn thấy mình trong tình huống đó, bạn cần phải giải quyết ngay lập tức bằng cách khám phá điều gì đó về công việc, dự án được nhận, hoặc ra khỏi đó. Dự án đó sẽ không có giá trị nếu bạn không đam mê nó.
Đo hai lần, cắt một lần... nhưng đừng đo quá ba lần.


Để cái tôi của mình lại phía sau

Nhiều lập trình viên có cái tôi rất lớn. Bạn thông minh hơn, hiểu biết nhiều hơn, hoặc có kinh nghiệm hơn người khác không có nghĩa là bạn giỏi hơn người đó. Bạn cần phải đối xử với mọi người một cách tôn trọng, biết lắng nghe và thực tâm xem xét những ý tưởng của người khác. Bạn hãy yêu cầu giúp đỡ khi cần thiết và không coi thường bất cứ ai khác. Bạn cũng nên quan tâm nhiều hơn về việc giúp đỡ các đội khác thành công nếu được họ tín dụng cho công việc đó.

Có tinh thần kinh doanh

Các lập trình viên giỏi nhất không phải chỉ biết đến kỹ thuật. Họ có cảm giác thực sự của các doanh nhân và cảm thấy mình thực sự làm chủ trong các sản phẩm. Đối với họ, sự thành công của sản phẩm không chỉ phục vụ việc tăng lương. Bởi vì họ có tâm huyết trong các dự án, làm việc vì lợi ích của dự án và muốn tiến xa hơn nữa trong công việc.

Đo hai lần, cắt một lần... nhưng đừng đo quá ba lần

Một trong những sai lầm tồi tệ nhất một lập trình viên có thể làm là lao vào viết mã mà không có bất kỳ ý tưởng gì về nó. Khi lập trình viên xuất sắc bắt tay vào viết mã, đó là vì các thông số kỹ thuật rất giống với một mô hình họ thực hiện trước đây. Và khi họ đang phải đối mặt với một vấn đề mới, họ nghĩ ngay đến kế hoạch và nghiên cứu sâu hơn.

Điều quan trọng nhất của lập trình viên xuất sắc là không để cho mình bị hút vào cái bẫy "tê liệt phân tích". Bạn phải biết thận trọng hơn về một số điều (ví dụ bất cứ thứ gì liên quan đến tiền hoặc dữ liệu cá nhân). Bạn cũng cần tính toán cẩn thận trước khi làm (Đo hai lần, cắt một lần...) nhưng đừng để mất quá nhiều thời gian cho việc đó (Đừng đo quá ba lần).

Điều quan trọng nữa là sau khi bắt đầu viết mã, bạn phát hiện một có một vài điểm sai sót nào đó và thấy cần phải điều chỉnh kế hoạch thì hãy tạm dừng kế hoạch đó lại. Các lập trình viên giỏi nhất mà tôi biết sẵn sàng hy sinh một kế hoạch nếu nó không còn phù hợp hoặc phát hiện nó có những thiếu sót không thể khắc phục.

Cuối cùng, chúc bạn sớm trở thành một lập trình viên tuyệt vời nhất!

Nguồn: Chungta.vn

ĐH CNTT K5 (Học kỳ 1 – 2013)
* Áp dụng từ: 14 tháng 10 năm 2013
Th 2
Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 306-C
GV: Trần Thị Dương
Ghi Chú: CNTT 46-HET, DIEN TU 27

Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 307-C
GV: Nguyễn Phương Thảo
Ghi Chú: DHCNTT 1-45

Toán cao cấp A1(45 LT)
Tiết:7->9,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 307-C
GV: Đỗ Thị Hồng
Th 3
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1(30 LT)
Tiết:8->11,BĐ: 15/10/2013->08/12/2013,Phòng: 701-C
GV: Phạm Đình Hòe
Th 4
Toán cao cấp A1(45 LT)
Tiết:7->9,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 410-C
GV: Đỗ Thị Hồng
Th 5
Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 403-C
GV: Trần Thị Dương
Ghi Chú: CNTT46-HET, DIEN TU 27

Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 401-C
GV: Nguyễn Phương Thảo
Ghi Chú: DHCNTT 1-45
Th 6

Th 7

CN

TKB - ĐH CNTT K5 - Đợt 1-2013


ĐH CNTT K5 (Học kỳ 1 – 2013)
* Áp dụng từ: 14 tháng 10 năm 2013
Th 2
Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 306-C
GV: Trần Thị Dương
Ghi Chú: CNTT 46-HET, DIEN TU 27

Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 307-C
GV: Nguyễn Phương Thảo
Ghi Chú: DHCNTT 1-45

Toán cao cấp A1(45 LT)
Tiết:7->9,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 307-C
GV: Đỗ Thị Hồng
Th 3
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1(30 LT)
Tiết:8->11,BĐ: 15/10/2013->08/12/2013,Phòng: 701-C
GV: Phạm Đình Hòe
Th 4
Toán cao cấp A1(45 LT)
Tiết:7->9,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 410-C
GV: Đỗ Thị Hồng
Th 5
Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 403-C
GV: Trần Thị Dương
Ghi Chú: CNTT46-HET, DIEN TU 27

Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 401-C
GV: Nguyễn Phương Thảo
Ghi Chú: DHCNTT 1-45
Th 6

Th 7

CN


CĐN Lập trình máy tính 1 - K7 (Học kỳ 1 - 2013)
* Áp dụng từ: 14 tháng 10 năm 2013
Th 2
Ngoại ngữ (60 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 14/10/2013->09/03/2014,Phòng: 407-C
GV: Lê Thị Phương
Ghi Chú: LTMT 22, DIEN 10, DT 7

Vật lý(60 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->26/01/2014,Phòng: 407-C
GV: Lê Văn Quyết
Th 3
Toán cao cấp(75 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 14/10/2013->12/01/2014,Phòng: 407-C
GV: Nguyễn Thị Lan

Vật lý(60 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 23/12/2013->26/01/2014,Phòng: 407-C
GV: Lê Văn Quyết

Tin học văn phòng nâng cao(60 TH)
Tiết:8->12,BĐ: 20/10/2013->12/01/2014,Phòng: Phòng máy tính 3
GV: Nguyễn Văn Diễn
Th 4
Ngoại ngữ(60 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->09/03/2014,Phòng: 406-C
GV: Lê Thị Phương
Ghi Chú: LTMT 22, DIEN 10, DT 7

Tin học đại cương(30 LT)
Tiết:7->9,BĐ: 14/10/2013->23/12/2013,Phòng: Phòng thí nghiệm công nghệ đa phương tiện
GV: Nguyễn Văn Diễn

Tin học đại cương(60 TH)
Tiết:10->12,BĐ: 14/10/2013->23/12/2013,Phòng: Phòng máy tính 2
GV: Nguyễn Văn Diễn
Th 5
Toán cao cấp(75 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 14/10/2013->12/01/2014,Phòng: 405-C
GV: Nguyễn Thị Lan

Tin học văn phòng nâng cao(45 LT)
Tiết:8->12,BĐ: 20/10/2013->22/12/2013,Phòng: Phòng thí nghiệm công nghệ đa phương tiện
GV: Nguyễn Văn Diễn
Th 6
Pháp luật(30 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->22/12/2013,Phòng: 407-C
GV: Đặng Thị Hường
Th 7

CN

TKB - CĐN LTMT K7 - Đợt 1-2013


CĐN Lập trình máy tính 1 - K7 (Học kỳ 1 - 2013)
* Áp dụng từ: 14 tháng 10 năm 2013
Th 2
Ngoại ngữ (60 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 14/10/2013->09/03/2014,Phòng: 407-C
GV: Lê Thị Phương
Ghi Chú: LTMT 22, DIEN 10, DT 7

Vật lý(60 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->26/01/2014,Phòng: 407-C
GV: Lê Văn Quyết
Th 3
Toán cao cấp(75 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 14/10/2013->12/01/2014,Phòng: 407-C
GV: Nguyễn Thị Lan

Vật lý(60 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 23/12/2013->26/01/2014,Phòng: 407-C
GV: Lê Văn Quyết

Tin học văn phòng nâng cao(60 TH)
Tiết:8->12,BĐ: 20/10/2013->12/01/2014,Phòng: Phòng máy tính 3
GV: Nguyễn Văn Diễn
Th 4
Ngoại ngữ(60 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->09/03/2014,Phòng: 406-C
GV: Lê Thị Phương
Ghi Chú: LTMT 22, DIEN 10, DT 7

Tin học đại cương(30 LT)
Tiết:7->9,BĐ: 14/10/2013->23/12/2013,Phòng: Phòng thí nghiệm công nghệ đa phương tiện
GV: Nguyễn Văn Diễn

Tin học đại cương(60 TH)
Tiết:10->12,BĐ: 14/10/2013->23/12/2013,Phòng: Phòng máy tính 2
GV: Nguyễn Văn Diễn
Th 5
Toán cao cấp(75 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 14/10/2013->12/01/2014,Phòng: 405-C
GV: Nguyễn Thị Lan

Tin học văn phòng nâng cao(45 LT)
Tiết:8->12,BĐ: 20/10/2013->22/12/2013,Phòng: Phòng thí nghiệm công nghệ đa phương tiện
GV: Nguyễn Văn Diễn
Th 6
Pháp luật(30 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 14/10/2013->22/12/2013,Phòng: 407-C
GV: Đặng Thị Hường
Th 7

CN

CĐ CNTT K10 (Học kỳ 1 – 2013)
* Áp dụng từ: 14 tháng 10 năm 2013
Th 2
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1(30 LT)
Tiết:2->5,BĐ: 15/10/2013->08/12/2013,Phòng: 701-C
GV: Phạm Đình Hòe
Th 3
Toán cao cấp A1(45 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 301-C
GV: Nguyễn Bá Tuấn
Th 4
Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 24/08/2013->08/12/2013,Phòng: 410-C
GV: Lê Thị Phương
Th 5

Th 6
Toán cao cấp A1(45 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 306-C
GV: Nguyễn Bá Tuấn

Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 24/08/2013->08/12/2013,Phòng: 502-C
GV: Lê Thị Phương
Th 7

CN

TKB - CĐ CNTT K10 - Đợt 1-2013

CĐ CNTT K10 (Học kỳ 1 – 2013)
* Áp dụng từ: 14 tháng 10 năm 2013
Th 2
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1(30 LT)
Tiết:2->5,BĐ: 15/10/2013->08/12/2013,Phòng: 701-C
GV: Phạm Đình Hòe
Th 3
Toán cao cấp A1(45 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 301-C
GV: Nguyễn Bá Tuấn
Th 4
Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 24/08/2013->08/12/2013,Phòng: 410-C
GV: Lê Thị Phương
Th 5

Th 6
Toán cao cấp A1(45 LT)
Tiết:1->3,BĐ: 14/10/2013->08/12/2013,Phòng: 306-C
GV: Nguyễn Bá Tuấn

Tiếng Anh giao tiếp 1(45 LT)
Tiết:4->6,BĐ: 24/08/2013->08/12/2013,Phòng: 502-C
GV: Lê Thị Phương
Th 7

CN

test ....